PreprintPDF Available

Chuyên san Dạy và Học - Số 30 - Gắn kết

Authors:
Preprints and early-stage research may not have been peer reviewed yet.

Abstract

Sớm thôi, 2020 sẽ khép lại, mở ra những kỳ vọng và mong ước tươi sáng, đầy ắp cho 2021. Trước sự chuyển giao đó, ta hãy cùng làm một tổng kết nhỏ xinh. Dạy và học đến nay đã được 30 số. Riêng năm qua có 130 bài, đâu đó 400-500 trang viết do những tình nguyện viên gửi gắm. Tuy vẫn còn nhiều hạn chế, nhưng Dạy và học vẫn hy vọng mang tới được cho các thầy cô chút chất keo giúp gắn kết lý thuyết với thực hành, hàn chặt kỳ vọng vào thực tế. Với chủ đề “Gắn kết”, kỳ này, chuyên san sẽ xoay quanh câu chuyện tạo dựng những mối quan hệ có ảnh hưởng mật thiết với việc học tập của học sinh. Trước hết là mối quan hệ giữa thầy và trò. Để có được sự kết nối với học trò, giáo viên cần có một phương pháp sư phạm tốt. Bài “Thiết kế phổ quát cho học tập” và “Trẻ sẽ học tập tốt hơn nếu không phải ngồi yên một chỗ” sẽ giúp giáo viên hình thành những tiết dạy tôn trọng sự khác biệt của mỗi cá nhân học sinh. Tiếp đó là kỷ luật và giao tiếp tích cực trong lớp học, giáo viên cần có một sự phân định rõ giữa “… kỷ luật và trừng phạt”, đồng thời, giữ được sự trao đổi thường xuyên với học sinh. Bài “Xây dựng những mối liên hệ thông qua những bức thư tay” sẽ đem tới vài gợi ý bổ ích cho bạn. Với câu chuyện xây dựng mối quan hệ tốt với phụ huynh, bạn có thể tham khảo bài “Gặp gỡ phụ huynh: vượt qua dòng nước cuốn” để tìm kiếm gợi ý giúp bạn tháo gỡ nút thắt với một vài trường hợp khó khăn. Ngoài ra, các bài: “Hiểu về sư phạm theo một cách đơn giản”, “Thay vì coi “thất bại” như là một điều tích cực, tại sao không sử dụng những từ tích cực?” là những vấn đề đơn giản mà chúng ta có thể chủ động hành, nhằm xây dựng sự thống nhất chung giữa thầy cô và cha mẹ và đem tới sự phối hợp đồng thời từ hai phía.
GẮN KẾT
Số 30 - tháng 12| 2020
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
UDL - THIẾT KẾ PHỔ
QUÁT CHO VIỆC HỌC
TRẺ SẼ HỌC TẬP TỐT HƠN
NẾU KHÔNG PHẢI NGỒI YÊN
MỘT CHỖ
DẠY VỀ CÂU HỎI THAY VÌ
CÂU TRẢ LỜI
SỰ KHÁC BIỆT
GIỮA KỶ LUẬT VÀ
TRỪNG PHẠT?
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgNội san Dạy học | Day-hoc.org
Số 30: Gắn kết
Dạy thế nào?
ĐỂ ĐIỂM SỐ TRỞ NÊN CÓ Ý NGHĨA VÀ HỮU ÍCH
ĐỐI VỚI VIỆC HỌC CỦA HỌC SINH ....................... 06
Đức Hà dịch
GẶP GỠ PHỤ HUYNH:
VƯỢT QUA DÒNG NƯỚC CUỐN ...........................09
Ngọc Lan dịch
UDL - THIẾT KẾ PHỔ QUÁT CHO VIỆC HỌC .........14
Việt Anh dịch
DẠY VỀ CÂU HỎI THAY VÌ CÂU TRẢ LỜI ...............18
Phương Thục dịch
Học thế nào?
HIỂU VỀ SƯ PHẠM THEO MỘT CÁCH ĐƠN GIẢN -
KỲ 2 ...........................................................................21
Jasmine dịch
TRẺ SẼ HỌC TẬP TỐT HƠN NẾU KHÔNG PHẢI
NGỒI YÊN MỘT CHỖ ...............................................24
Quốc Việt dịch
2Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 30 - 2020
Quản lý Giáo dục
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KỶ LUẬT
VÀ TRỪNG PHẠT? ................................................... 28
Khuất Tuấn dịch
XÂY DỰNG NHỮNG MỐI LIÊN HỆ THÔNG QUA
NHỮNG BỨC THƯ TAY ............................................31
Nguyễn Tiến Đạt dịch
Cải tổ giáo dục
THAY VÌ COI “THẤT BẠI” NHƯ LÀ MỘT ĐIỀU TÍCH
CỰC, TẠI SAO KHÔNG SỬ DỤNG NHỮNG TỪ TÍCH
CỰC? ........................................................................34
Jasmine dịch
[30+ FRAMEWORKS GIÁO DỤC] - KỲ 13: BUILDING
BLOCKS FOR LEARNING ........................................37
Việt Anh
3
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 30 - 2020
Thể lệ gửi bài:
Quý thầy cô, anh chị nội dung liên quan tới Dạy
Học muốn chia sẻ tới cộng đồng, xin vui lòng gửi về Ban
Biên tập Lộn xộn qua email bientap@day-hoc.org
Cuối bài viết, tác giả xin vui lòng giới thiệu vài nét về bản
thân: Họ tên, nơi công tác, địa chỉ liên lạc, số điện thoại,
các chủ đề nghiên cứu yêu thích…
Do thời gian và nhân sự có hạn, Ban Biên tập xin phép
chỉ liên hệ với các bài viết được chọn đăng.
Tinh thần 4.0
Ban Biên tập quý thầy cô, anh chị gửi bài cộng tác
đều chia sẻ tinh thần 4.0, tức là:
- 0 lương
- 0 văn phòng
- 0 chuyên môn cao
- 0 giới hạn không gian - thời gian
Địa chỉ gửi bài:
Bientap@day-hoc.org
Chia sẻ:
Quý thầy cô, anh chị cảm thấy nội dung Dạy và Học có
ích, xin vui lòng chia sẻ tới bất kỳ những ai quan tâm,
kèm theo trích dẫn nguyên vẹn và đầy đủ về nguồn gốc
bài viết.
Mọi người nói về Dạy & Học
“Dạy & Học là ấn phẩm không thể thiếu đối
với các nhà trường phổ thông”
- TS Phạm Hiệp, Chuyên gia Giáo dục
4Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 30 - 2020
Lời tựa
Quý độc giả thân mến,
Sớm thôi, 2020 sẽ khép lại, mở ra những kỳ vọng và mong ước tươi sáng, đầy ắp cho 2021. Trước
sự chuyển giao đó, ta hãy cùng làm một tổng kết nhỏ xinh. Dạy và học đến nay đã được 30 số.
Riêng năm qua có 130 bài, đâu đó 400-500 trang viết do những tình nguyện viên gửi gắm. Tuy vẫn
còn nhiều hạn chế, nhưng Dạy và học vẫn hy vọng mang tới được cho các thầy cô chút chất keo
giúp gắn kết lý thuyết với thực hành, hàn chặt kỳ vọng vào thực tế.
Với chủ đề “Gắn kết”, kỳ này, chuyên san sẽ xoay quanh câu chuyện tạo dựng những mối quan hệ
có ảnh hưởng mật thiết với việc học tập của học sinh.
Trước hết là mối quan hệ giữa thầy và trò. Để có được sự kết nối với học trò, giáo viên cần có một
phương pháp sư phạm tốt. Bài “Thiết kế phổ quát cho học tập”“Trẻ sẽ học tập tốt hơn nếu
không phải ngồi yên một chỗ” sẽ giúp giáo viên hình thành những tiết dạy tôn trọng sự khác
biệt của mỗi cá nhân học sinh. Tiếp đó là kỷ luật và giao tiếp tích cực trong lớp học, giáo viên cần
có một sự phân định rõ giữa “… kỷ luật và trừng phạt”, đồng thời, giữ được sự trao đổi thường
xuyên với học sinh. Bài “Xây dựng những mối liên hệ thông qua những bức thư tay” sẽ đem
tới vài gợi ý bổ ích cho bạn.
Với câu chuyện xây dựng mối quan hệ tốt với phụ huynh, bạn có thể tham khảo bài “Gặp gỡ phụ
huynh: vượt qua dòng nước cuốn” để tìm kiếm gợi ý giúp bạn tháo gỡ nút thắt với một vài
trường hợp khó khăn. Ngoài ra, các bài: “Hiểu về sư phạm theo một cách đơn giản”, “Thay vì
coi “thất bại” như là một điều tích cực, tại sao không sử dụng những từ tích cực?” là những
vấn đề đơn giản mà chúng ta có thể chủ động thực hành, nhằm xây dựng sự thống nhất chung giữa
thầy cô với cha mẹ - nền tảng cho sự phối hợp đồng thời từ hai phía.
Xin chúc Quý vị có những khoảng thời gian thú vị.
Trân trọng,
Ban Biên tập Lộn Xộn
5
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 30 - 2020
6Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
Để điểm số trở nên có ý nghĩa và
hữu ích đối với việc học của học sinh
1Để phản ánh thực chất quá trình học của học
sinh thông qua điểm số một trong những
vấn đề lâu năm của giáo dục, và những thay
đổi tư duy sau về việc cho điểm và báo điểm
sẽ giúp khắc phục vấn đề này.
Tyler Rablin | Đức Hà dịch
Lời thú nhận: Trong quá trình dạy học của mình,
đã có những lúc tôi cảm thấy không thích hoạt
động đánh giá. Tôi sợ phải nhìn thấy những biểu
cảm của học sinh khi tôi thông báo rằng lớp sắp
bài kiểm tra. Tôi ghét phải trả lại bài kiểm
tra vì điểm số làm ảnh hưởng tới động lực học
tập của học sinh. Nhưng quan trọng nhất, tôi
ghét cảm giác rằng việc đánh giá là không quan
trọng.
Tôi đã cố gắng thay đổi điều này tôi thay đổi
thang điểm, cách thông báo điểm cho học sinh
và phụ huynh, kể cả thay đổi kiểu đánh giá
nhưng tất cả đều không tạo nên quá nhiều khác
biệt. Tôi nhận ra rằng sau mọi cố gắng thì tôi vẫn
không thể thay đổi vai trò của hoạt động đánh
giá trong lớp học của mình.
Sau đó, tôi dần nhận ra một số tư duy quan
trọng mà tôi phải thay đổi nếu muốn việc đánh
giá trong lớp học của mình trở nên có ý nghĩa.
Đánh giá là bằng chứng của quá trình học tập
Đánh giá không quan trọng việc học được
thể hiện qua đánh giá mới thực sự là điều quan
trọng. Điều này thật sự khó khăn để nắm bắt
được. Điều quan trọng mà chúng ta cần nhớ
1 Nguồn: https://www.edutopia.org/article/how-
make-sure-grades-are-meaningful-and-useful-students
một bài đánh giá đơn lẻ chỉ là một phần trong rất
nhiều thông tin cần được sử dụng để xác định
sự tiến bộ của học sinh. Điều này đã giúp tôi
mở rộng suy nghĩ của mình về hoạt động đánh
giá. Thông tin từ một cuộc trò chuyện với học
sinh? Đó bằng chứng! Lắng nghe các nhóm
làm việc? Cũng là bằng chứng!
Tôi đã thay đổi như thế nào? Tôi tự đặt ra hai
câu hỏi: Tôi muốn học sinh của mình học điều
gì? Và làm thế nào để học sinh có thể chứng tỏ
rằng các em đã học được những điều đó? Việc
sử dụng nhiều kỹ thuật để đánh giá sẽ cung cấp
cho bạn bức tranh toàn cảnh hơn về việc học
tập của học sinh thay vì chỉ nhìn nhận các khía
cạnh một cách riêng lẻ.
Hãy cố gắng nhiều lần, nhưng đừng làm đi
làm lại một bài tập
Khi học sinh cố gắng nhiều lần để chứng minh
thành quả học tập của mình, chúng ta thể
bắt đầu đặt câu hỏi về việc cho học sinh làm lại
các nhiệm vụ. Học sinh cần phải hiểu được giá
trị của việc tạo nên một sản phẩm tốt thông qua
nhiều lần thử sửa đổi, nhưng làm đi làm lại
một điều gì đó chỉ mục đích điểm số thì thật
là không nên.
Thay vì yêu cầu học sinh làm đi làm lại một bài
tập, hãy hỏi học sinh, “Còn cách nào để cho thấy
rằng em đã tiếp thu được kiến thức đó không?”
Điều này giúp loại bỏ sự nhấn mạnh vào bài tập,
thay vào đó là tập trung vào học sinh và việc học
của các em.
7
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
Tôi đã thay đổi như thế nào? Các tiêu chuẩn
khác nhau cần được dành sự tập trung và lượng
thời gian khác nhau để đạt được. Điều này quan
trọng bạn không thể thử đi thử lại nhiều lần
với hàng triệu tiêu chuẩn. Hãy giới hạn nhiều
lần thử để dành thời gian cho những gì cần thiết.
Hãy duy đi sâu vào các vấn đề, thay suy
nghĩ về quá nhiều thứ, từ đó bạn có thể thu thập
nhiều thông tin cho từng khái niệm hoặc kỹ năng
mà học sinh đã đạt được.
Sổ điểm có thể trở thành nhật ký giao tiếp
Tôi vẫn nhớ khoảnh khắc — khi tôi đi dọc hành
lang vào cuối năm đầu tiên dạy học để nộp bảng
điểm cuối năm tôi đã nghĩ, “Điều này ý
nghĩa gì?” Tôi biết ai là người giỏi trong các câu
đố, ai là người đạt thành tích tốt và thật lòng thì
ai là người ghét lớp tôi. Tôi đã phải tự hỏi, Sổ
điểm cho thấy điều gì, và vì sao?”.
Tôi đã thay đổi như thế nào? Bước một
xác định thông tin muốn truyền đạt. Hãy nghĩ
xem thông tin nào sẽ hữu ích cho tất cả các bên
liên quan và sau đó nghĩ về cách để bạn có thể
truyền đạt thông tin đó một cách ràng. Từ
đó, để khoảng trống trong sổ điểm của bạn cho
từng phần riêng. Hãy làm cho sổ điểm của bạn
rõ ràng, có ý nghĩa và chính xác.
Sử dụng nhận xét để hướng học sinh đến
việc học tập, nghiên cứu sâu hơn
Khi tôi bắt đầu giảng dạy, hầu hết các phản hồi
học sinh nhận được chỉ đơn giản nêu ra
các lỗi các em mắc phải, cho thông
qua nhận xét hay điểm số. Dần dần, tôi nhận
ra rằng công việc của tôi không phải là xác định
những sai lầm; công việc của tôi là xác định các
xu hướng, phân tích chúng để xác định nhu cầu
học tập, và sau đó giúp học sinh tìm ra hướng đi
đúng cho mình.
Tôi đã thay đổi như thế nào? Thành thật
nói, cách này thất bại để tìm ra những cách
mới hiệu quả hơn trong việc đưa ra nhận xét.
Một nhận xét ngắn được viết ra thường không
đảm bảo được những gì tôi cần để giúp học sinh
tập trung vào việc học các nhận xét của tôi
thường tập trung quá vào các lỗi sai. Bằng cách
để lại phản hồi qua video, sử dụng các công cụ
tự động điền văn bản, tận dụng các buổi gặp
mặt riêng và các danh mục phản hồi, tôi có thể
đưa ra nhận xét hiệu quả hơn thay chỉ tổng
hợp các lỗi sai của học sinh.
Tôi biết những thay đổi này có vẻ rất nhỏ, nhưng
nếu không có chúng, các phương pháp đánh giá
của chúng ta sẽ bắt nguồn từ các phương pháp
không phù hợp với cách trẻ học tốt nhất. Từ lâu,
việc chấm điểm và đánh giá đã khiến học sinh
sợ hãi trong suốt thời đi học, đẩy học sinh vào
một cuộc chiến, khiến học sinh bỏ chạy hoặc
đóng băng phản ứng các em cảm thấy quá
trình đánh giá không an toàn, tích cực hay hữu
ích.
Vấn đề là điểm số nằm ngoài tầm kiểm soát của
học sinh, các em không cảm thấy mình cũng là
một phần trong quá trình đánh giá. Tôi vẫn cho
điểm, nhưng với những thay đổi mà tôi đã thực
hiện giúp cho học sinh biết rằng các em là một
phần của quá trình đánh giá — các em có tiếng
nói trong đó và kết quả đánh giá thuộc về chính
các em.
Những thay đổi trong suy nghĩ này không phải là
tất cả, nhưng chúng đã làm thay đổi không khí
trong lớp học của tôi. Học sinh của tôi không còn
phải chạy theo đánh giá các em không sợ
điều đó nữa. Thay vì thế, học hiểu bản chất của
việc đánh giá, cũng như giá trị của hoạt động
đánh giá không chỉ với giáo viên với chính
bản thân các em.
Đó mới thực sự là điều quan trọng.
8Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
1 Alex Newman2 | Ngọc Lan dịch
Đa số phụ huynh đều có lý lẽ, chừng mực và
tôn trọng giáo viên. Nhưng những người yêu
cầu cao thường khiến mọi giáo viên e sợ. Tình
trạng này dường như đang trở nên tồi tệ hơn qua
mỗi năm.
Cho dù giáo viên đã dành quá nhiều thời gian để
kiên nhẫn giúp đỡ một học sinh đang ở mức chưa
đạt yêu cầu, hay chỉ đơn giản là tức giận thì việc
các bậc phụ huynh nổi giận càng gây thêm căng
thẳng về mặt cảm xúc và tinh thần vốn đã quá tải
của giáo viên.
Điều đó vẻ không công bằng, bạn đã chọn nghề
1 Tựa gốc: Meet The Parents: Navigating Tricky
Waters.
2 Alex Newman là một nhà văn và biên tập viên tự do
ở Toronto. Truy cập trang web của cô ấy, alexnewmanwriter.
com.
dạy học, với ý định hướng dẫn học sinh khám phá
thế giới tuyệt vời của tri thức, mong chờ những
khoảnh khắc khi một ý tưởng lóe lên và ý niệm sẽ
biến thành hiện thực.
Bạn đang cố gắng hết sức nhưng đối với một số
phụ huynh thì điều đó chưa đủ. Jen McColl,
một giáo viên tiểu học Toronto, cho biết điều
này ảnh hưởng đến một số giáo viên, đặc biệt
những giáo viên rất sáng tạo bị áp lực nhiều hơn
những giáo viên khác. Cô ấy là bạn của một “thầy
giáo tuyệt vời, người đã tổ chức rất nhiều hoạt động
thú vị cho bọn trẻ và hiện nay đang nghỉ vì quá căng
thẳng. Lý do chủ yếu khiến anh ấy suy sụp là sự tra
hỏi dồn dập của phụ huynh về những gì anh ấy đang
làm, và điều đó tạo ra mâu thuẫn.
Đối với McColl, mâu thuẫn trở nên lớn nhất khi
phụ huynh đặt câu hỏi về mọi thứ bạn làm, bất kể
đó “chương trình giảng dạy, cách quản lý lớp
GẶP GỠ PHỤ HUYNH: GẶP GỠ PHỤ HUYNH:
VƯỢT QUA DÒNG NƯỚC CUỐNVƯỢT QUA DÒNG NƯỚC CUỐN
9
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
học, sự tương tác với học sinh hay hoạt động sau
giờ học mà tôi nên thực hiện.”
Mỗi năm học, McColl luôn có một hoặc hai phụ
huynh yêu cầu cao, những người vấn
đề hàng tuần, 1 cái email hay những cuộc gọi.
Thông thường, họ cảm thấy như con họ đang bị
những đứa trẻ khác hay các giáo viên khác bắt
nạt. Đôi khi cảm tưởng như một cái hố không
đáy đang rút cạn cả nước bởi bất kể chiến lược
nào tôi đưa ra hay những người mà tôi nhờ vấn
giúp đều được xem như không còn quan trọng”.
McColl cũng giải thích thêm nguyên nhân đến từ
vấn đề bảo mật. Mâu thuẫn giữa những đứa trẻ
là chuyện riêng tư. Nếu tôi phát hiện ra một trong
những đứa trẻ bị tổn thương, tôi không thể chia sẻ
với phụ huynh kia rằng đứa trẻ đó đang bị kỷ luật,
vậy các phụ huynh cứ nghĩ rằng đang chẳng
chuyện gì xảy ra.
Tuy nhiên, các sự cố về hành vi quá khích hiếm
khi xảy ra. McColl cho biết trong 14 năm giảng
dạy, ấy đã thể gặp ba trường hợp mối
quan hệ đã hoàn toàn tan vỡ sau thời điểm giải
quyết vấn đề”.
Tại sao họ hành động như vậy?
Dù vậy, cô McColl hiểu vì bản thân cô cũng là một
phụ huynh. Mỗi người đều đang trên cuộc hành
trình của riêng mình. Nếu cha mẹ những trải
nghiệm không mấy dễ chịu khi còn đi học, hoặc
từng có những trải nghiệm với giáo viên như kẻ thù
thì họ có xu hướng trở nên tức giận nhiều hơn.
Năm học này, McColl có 9/25 học sinh có lộ trình
học tập cá nhân (Individual Education Plan -
IEP). Khi ai đó có con là một học sinh có lộ trình
hỗ trợ cá nhân thì nỗi xấu hổ tăng cao vì đôi khi
chính phụ huynh đã trải nghiệm học tập tương tự
trước đó. “Tôi luôn cố gắng nhìn nhận vấn đề dưới
các lăng kính khác nhau và trao đổi cho phụ huynh
biết trong quá trình họ phối hợp với nhà trường.
Các phụ huynh cũng lo âu không kém, đặc biệt
muốn đảm bảo rằng con cái của họ có thành
tích học tập tốt để chắc chắn có sự nghiệp thành
công trong tương lai. Như Alex Russell, tác giả
của “Drop the Worry Ball” nói: Xã hội phát triển
khiến các cha mẹ cảm thấy có trách nhiệm hơn về
những thành công và thất bại của con cái họ… họ
càng kỳ vọng nhiều vào năng lực của con mình, thì
những đứa trẻ càng trở nên bất ổn hơn”.
Dù vậy, phần lớn các phụ huynh đều “không
mong chờ một hình phạt khắc nghiệt”_Paul
Wozney, một giáo viên tiểu học, trung học cơ sở
và trung học phổ thông ở Halifax (thuộc Canada)
và là chủ tịch Hội liên hiệp giáo viên bang Nova
Scotia chia sẻ. Paul Wozney tìm thấy hai kiểu
phụ huynh thường gây rắc rối. Đầu tiên một
nhóm phụ huynh nhỏ nhưng hiếu chiến: những
phụ huynh không tìm kiếm giải pháp và những phụ
huynh thích dùng sức mạnh họ khả năng
luôn cho rằng bản thân đúng. Thật sự không thể
định hướng cho họ có suy nghĩ khác đi bởi vì chúng
đã cố thủ trong một khuôn mẫu.
Thầy cũng đồng thời chia sẻ rằng, chính những
vị phụ huynh cần sự hỗ trợ lại bị ảnh hưởng
những đống hỗn động mà những phụ huynh đòi
hỏi yêu cầu cao gây ra. Chính nhóm phụ huynh
có mối quan tâm chính đáng lại là những người ít
được phục vụ nhất, bởi vì họ mang tới cho giáo viên
cảm giác về năng lượng tiêu cực giống như t những
người đòi hỏi không chính đáng. Bạn có thể sẽ gắn
sự tiêu cực của ai đó vào sự cấp bách của người
khác”.
Một cách phòng ngừa nhẹ nhàng
Trong tháng đầu tiên của năm học, McColl cố
gắng gọi cho phụ huynh để trò chuyện một câu
chuyện tốt về con của họ. Cuộc trao đổi tích cực đó
tạo điều kiện cho việc giao tiếp suôn sẻ hơn sau này
nếu có vấn đề. Vì vậy, phụ huynh không phải gồng
mình lên với câu hỏi “ừ, ồ, bây giờ thì sao?
10 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
Mặc không bắt buộc phải trao đổi email với
phụ huynh nhưng hàng tháng, cô McColl thích
gửi phụ huynh bản tin bằng bản giấy.
Cách thức phối hợp giữa phụ huynh và giáo viên
này, sự tương tác thường xuyên giữa nhà trường
gia đình trước khi xảy ra xung đột, đã được
thống kê chỉ ra là có lợi. Trong hướng dẫn của Bộ
Giáo Dục tỉnh Ontario (Canada) về việc đối phó
với xung đột, khá nhiều nghiên cứu được trích
dẫn. Sự thật rằng nếu gia đình càng tương tác
nhiều với trường học thì kết quả học tập, tính
chuyên cần và thái độ của học sinh càng tốt.
Tuy nhiên, khi những cuộc trò chuyện trở nên
khó khăn hơn, McColl sẽ bắt đầu bằng việc tóm
tắt lại những gì cô ấy thấy một cách khách quan,
sau đó hỏi ý kiến của phụ huynh về những gì họ
thấy ở nhà những phương pháp họ đã sử
dụng trong quá khứ. Cha mẹ vẫn người giáo
viên đầu tiên và tốt nhất của trẻ. Tôi cố gắng đối xử
với họ như một chuyên gia cho con của họ”.
Liên lạc mạng xã hội
Wozney khuyến nghị tránh tiếp xúc với phụ huynh
trên mạng hội. Các hội nhóm trên Facebook
một phần thuộc về cộng đồng trường học
cũng mang tính đời sống cá nhân, với những câu
chuyện có thể không thực sự đáng tin. “Giáo viên
bị ràng buộc bởi những quy định bảo mật thông tin,
họ không thể thảo luận hoặc bảo vệ mình trong một
diễn đàn như vậy.Thực tế, hầu hết công đoàn
giáo viên khuyên giáo viên không nên kết nối
trực tiếp với phụ huynh trên mạng xã hội.
Luyện tập lòng đồng cảm
McColl cảm thấy đồng cảm nhất với những gia
đình thực sự nhu cầu kết nối với trường học
nhưng hệ thống không đủ nguồn lực để đáp
ứng. Trong những tình huống như vậy, ấy sẽ
hỏi phụ huynh về cách họ muốn ấy giúp
đỡ.
McColl nói, hầu hết giáo viên đều học sinh
khối A, không phải lúc nào chúng tôi cũng thấy
được triển vọng của những học sinh đang gặp khó
khăn trong học tập. Chúng tôi thực sự cần có khả
năng phân tích để đưa ra quyết định và trao đổi
điều đó với phụ huynh.
Wozney cho biết lối ứng xử của phụ huynh cũng
phản ánh khá nhiều về học sinh. “thể có một
phụ huynh tấn công bạn không thương tiếc, nhưng
trải nghiệm của bạn với học sinh hoàn toàn không
phải như vậy. Hoặc bạn thể một phụ huynh
làm cho mọi thứ trở nên khủng hoảng và học sinh
phản ứng thái quá ngay cả với những hình phạt hợp
lý nhất. Tôi nhận thấy những đứa trẻ [có cha mẹ cư
xử theo cách đó] thường phản ứng thái quá trước
mọi tình huống hoặc dễ khép mình vào vỏ bọc.
Điều phải làm khi mọi thứ vượt tầm kiểm soát
Bất kể bạn đã xây dựng nền tảng ban đầu tốt đến
mức nào, đôi khi sự việc vẫn có thể diễn biến xấu
đi. Thực tế trước đây, khi điều đó xảy ra, đã đến
lúc bạn nên đề nghị sự giúp đỡ của hiệu trưởng.
Như Wozney chỉ ra: ban giám hiệu nhà trường
[hiệu trưởng, hiệu phó, trưởng các bộ phận] có thể
hữu ích trong việc giải quyết các rắc rối với phụ
huynh. Một người nào đó có thể tham gia cuộc họp
phụ huynh, với tư cách khách quan thì dễ dàng đàm
phán được. Đó là một vai trò vô cùng quan trọng mà
ban lãnh đạo nhà trường có thể thực hiện. Nhưng
nếu cấp quản lý của trường nói rằng ‘bạn gây ra vấn
đề trong lớp, bạn phải tự giải quyết nó’ thì điều đó
có thể đẩy bạn vào tình thế khó khăn.
Tuy nhiên, McColl nhận thấy có ngày càng nhiều
áp lực lên vai hiệu trưởng trong việc làm vừa
lòng phụ huynh. “Họ đang gặp sức ép khi phải giữ
cho cộng đồng phụ huynh được hài lòng vì tỉ lệ kiện
tụng ngày một tăng trong hội hiện nay. Tôi đã
chứng kiến những học sinh bị đình chỉ học vì đánh
nhau, sau đó việc đình chỉ đã không còn khi phụ
huynh đến gặp giám thị. Mục đích của việc đình chỉ
là để cảnh báo một điều nghiêm trọng đang xảy ra,
11
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
và cần được hỗ trợ nhiều hơn”.
Tuy nhiên, trong một vài tình huống, có một ranh
giới không nên vượt qua. Giáo viên nên nhận thức
được đâu là ranh giới đó dựa theo các quy định và
thủ tục thuộc thẩm quyền của bản thân họ. Điều
này nhằm hỗ trợ giáo viên và giúp họ kiểm soát
các tình huống.
Gọi cảnh sát?
Giáo viên có quyền tự bảo vệ mình và đôi khi điều
đó có nghĩa là gọi cảnh sát. Wozney chia sẻ rằng
việc này rất hiếm, nhưng xảy ra thường xuyên
hơn bạn nghĩ.
Trong chính sách của Hội liên hiệp giáo viên bang
Nova Scotia về việc đối phó với hành vi quấy rối
của học sinh, phụ huynh người lớn khác, các
quyền của giáo viên được quy định: “Giáo viên có
quyền được đối xử tôn trọng làm việc trong
một môi trường không bị quấy rối hay lạm dụng.
Đội ngũ giáo viên của Nova Scotia ngày càng báo
cáo nhiều hơn về các hành vi không phù hợp từ
học sinh, phụ huynh và những người lớn khác.
McColl chỉ có một lần khiến cô phải gọi cảnh sát.
Trước đây ấy đã gọi cho Hội viện trợ trẻ em
(CAS) vì một vài điều đứa trẻ mà học sinh đã chia
sẻ với cô ấy. CAS [đã liên hệ với gia đình của học
sinh]… và [sau đó] phụ huynh xuất hiện ở trường,
trông khá tức giận và đáng sợ. “Nếu một học sinh
trình báo bị xâm hại, nếu chúng tôi thấy có dấu hiệu
bị xâm hại, chúng tôi phải gọi cho CAS. Đó không
phải là phán đoán, đó là các quy tắc” - McColl nói.
Trong cái rủi có cái may
những điều may mắn cho những đám mây
tiềm tàng mưa bão này, đặc biệt là khi trẻ được
hỗ trợ trong quá trình học tập.
Trong một tình huống, McColl động viên một
học sinh cần được chữa bệnh. Đó không phải
trường hợp bỏ mặc chỉ đơn giản thẻ y tế
của em đó đã bị mất. Lúc đầu, người mẹ rất tức
giận với tôi đã can thiệp, ấy cảm thấy bị
đánh giá… Nhưng liên quan đến phúc lợi của
đứa trẻ và em ấy thực sự cần được giúp đỡ. Chúng
tôi tìm thấy các thầy thuốc sẵn sàng giúp đỡ và có
thể hỗ trợ những điều mà em ấy cần.
12 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
Hiện giờ, học sinh đó khỏe mạnh và học tập tốt.
Và mỗi khi người mẹ ấy nhìn thấy McColl, bà lại
ôm cô ấy vào lòng.
McColl nói: Khi xung đột xảy ra, chắc chắn phải có
lý do”. “Đừng nghĩ rằng chỉ cần cố đến hết năm
học, nếu chúng ra kiên trì, luôn những điều
tuyệt vời hơn đang xảy ra và điều đó sẽ giúp ích
cho tất cả mọi người. Bởi vì bạn phải tự hỏi, mâu
thuẫn này sẽ xảy ra tương tự khi nào đối với đứa
trẻ đó trong 20 năm nữa, và làm thế nào để trẻ
thể tự giải quyết tốt đẹp vấn đề đó?”
13
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
UDL - THIẾT KẾ PHỔ QUÁT
CHO VIỆC HỌC
14 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
1Allison Posey | Việt Anh dịch
Thiết kế phổ quát cho việc học (Univer-
sal Design for Learning - UDL) một
khuôn khổ được phát triển bởi Trung
tâm Ứng dụng Công nghệ Đặc biệt
(Center for Applied Special Technolo-
gy - CAST2)_một đối tác sáng lập của
Understood3. UDL hướng dẫn thiết kế
các trải nghiệm học tập nhằm chủ động
đáp ứng được nhu cầu của mọi người
học. Khi bạn sử dụng UDL, bạn giả
định rằng rào cản của việc học nằm ở
thiết kế môi trường học tập, chứ không
nằm ở học sinh. UDL dựa trên nền tảng
khoa học não bộ những thực hành
phạm dựa trên bằng chứng. Đồng
thời, cũng tận dụng sức mạnh của
công nghệ kỹ thuật số.
Hãy tưởng tượng điều này: Các em học sinh
của bạn chuẩn bị viết một bài luận về những giai
đoạn biến thái của loài bướm.
Một số học sinh thì đã từng thấy những chú
bướm phát triển qua các giai đoạn khác nhau tại
một bảo tàng khoa học của địa phương. Những
em này rất hào hứng chia sẻ những điều mình
biết. Còn những học sinh khác thì chẳng biết gì
về loài bướm cả, các em lo lắng khi phải viết về
chủ đề này. Và một vài học sinh khác thì chẳng
thích viết - nỗi kinh sợ đã nổi lên ngay từ khoảnh
khắc bạn nói ra từ “bài luận”.
Trong mọi lớp học, bạn biết rằng có một khoảng
1 Nguồn: https://www.understood.org/?_ul=1*aeqa-
1f*domain_userid*YW1wLXpDSk5HZzhLcnhIZWZZd1JJL-
Vo5THc.
2 CAST được thành lập năm 1984 bởi một nhóm nhỏ
các nhà nghiên cứu. CAST tập trung vào khám phá các cách
thức sử dụng những công nghệ mới, nhằm cung cấp trải
nghiệm giáo dục tốt hơn cho những học sinh có nhu cầu đặc
biệt (học sinh khuyết tật). Tham khảo thêm: https://www.
cast.org/
3 Understood là một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp
các chương trình, nguồn lực dễ tiếp cận và một cộng đồng
thấu hiểu để hỗ trợ các gia đình, các nhà giáo dục, thanh
thiếu niên đang làm việc, chăm sóc, giảng dạy cho những
người có nhu cầu đặc biệt. Tham khảo thêm: https://www.
understood.org/
cách lớn của hứng thú, nền tảng, và các kỹ năng
giữa những học sinh của bạn. Khi bạn ghi nhớ
điều này và lên kế hoạch cho bài dạy, bạn có thể
tiếp cận bài dạy theo một vài cách.
Bạn thể chia sẻ một bài học nhỏ về những
giai đoạn biến thái của loài bướm, giao cho học
sinh phiếu hướng dẫn để các em viết bài. Hoặc
bạn thể thiết lập một vài trạm, nơi học sinh
được nhóm lại theo cách linh hoạt như: dựa
trên sự hiểu biết sẵn có về đề tài, năng lực ngôn
ngữ, mức độ đọc hiểu.
Nhưng hãy lùi lại một bước nào. Trong mọi bài
học hoặc nhiệm vụ, đúng là bạn có thể dự kiến
trước phạm vi của khả năng thay đổi giữa học
sinh của mình. Nhưng còn có một cách tiếp
cận khác nữa mà bạn có thể sử dụng để lên kế
hoạch cho sự đa dạng này trong mọi bài học của
bạn: Thiết kế phổ quát cho việc học (Universal
Design for Learning - UDL).
Tại sao cần sử dụng Thiết kế phổ quát cho
việc học?
Mục tiêu cuối cùng của UDL là khiến mọi người
học trở thành “người học chuyên nghiệp”.
Những người học chuyên nghiệp những
người có mục đích, có động lực, tháo vát, hiểu
biết, có chiến lược và hướng đến mục tiêu trong
học tập.
UDL là một cách tiếp cận mạnh mẽ ngay từ
những bước đầu trong bài dạy của bạn, nó giúp
bạn dự kiến và lên kế hoạch cho tất cả học sinh
của bạn. Nó có thể giúp bạn chắc chắn rằng sẽ
có nhiều học sinh nhất sẽ tham gia và tiếp cận
vào việc học, chứ không chỉ là một vài em.
Bạn không cần những công cụ hay công nghệ
đặc thù nào để đi theo nguyên tắc của UDL.
Thay vào đó, học sinh của bạn sẽ chọn lựa từ
các công cụ và nguồn tài nguyên sẵn có của
bạn. Các em thể sẽ sử dụng theo những
cách khác nhau.
Ngoài ra, UDL có lẽ sẽ thay đổi cách bạn suy
15
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
nghĩ về những thứ cản trở học sinh học tập.
Thay nghĩ về những điều học sinh cần
phải thay đổi, UDL nhìn vào môi trường học
tập. Môi trường này có thể bao gồm những rào
cản cho việc học, giống như thiết kế của mục
tiêu chương trình học, đánh giá, phương pháp
và các học liệu. Trong cách thức này, bản thân
chính môi trường học tập có thể là “có khả năng”
hoặc “không có khả năng”.
UDL trao cho bạn một khuôn khổ để đi theo, nhờ
vậy bạn có thể hạn chế các rào cản học tập. Con
đường chính để làm được điều này là chuẩn bị
một môi trường học tập những thứ học
sinh cần để linh hoạt đạt tới mục tiêu của việc
học.
UDL trong lớp học trông như thế nào?
Thiết kế phổ quát có thể được bắt gặp ở mọi nơi
bạn nhìn vào - cả bên trong hay bên ngoài
ngôi trường của bạn. Những bờ đường vỉa
được thay đổi thành mặt phẳng nghiêng để tiếp
cận tới nhiều người dùng nhất, bao gồm cả
những người sử dụng xe lăn hay những người
đẩy xe đẩy. Những phụ đề dưới màn hình giúp
tivi trở nên dễ tiếp cận đối với những người kh-
iếm thính, cũng giống như những người ở phòng
gym hay những người bạn đời không thể thống
nhất được rằng nên giữ hay tắt tivi vào buổi tối.
Không có hai hình thức thiết kế phổ quát nào là
giống nhau.
Thiết kế Phổ quát cho việc học trông khác nhau
trong từng lớp học. Nhưng chúng có những điểm
chung. Khi bắt đầu, luôn luôn là sự tập trung tạo
dựng việc học tập chuyên nghiệp. Những yếu
tố phổ biến khác của một trải nghiệm UDL bao
gồm:
Tất cả học sinh biết về mục tiêu
Các lựa chọn linh hoạt, chủ đích cho
tất cả học sinh sử dụng
Học sinh truy cập vào các nguồn tài
nguyên ngay từ những bước đầu tiên của
bài học.
Học sinh xây dựng nội hóa việc học
của mình.
Trong một môi trường UDL, học sinh hiếm khi
làm cùng một nhiệm vụ với cùng 1 cách thức
trong cùng một thời điểm. Các tùy chọn linh hoạt
sẽ khác biệt theo độ tuổi phát triển. Nhưng khu-
ôn khổ để có những mục tiêu rõ ràng và các tùy
chọn linh hoạt nhất quán mọi cấp lớp hay
các lĩnh vực nội dung.
Xem một video để thấy UDL trông như thế nào
trong một lớp học (khối 5) với thầy giáo Eric
Crouch: https://youtu.be/B7qYJY62X2s
3 nguyên tắc của UDL và làm sao để sử dụng
chúng
UDL mô tả khả năng thay đổi của con người dựa
trên các phần của não bộ quản những vấn
đề của việc học như: “tại sao” (mạng lưới cảm
xúc), “cái gì” (mạng lưới nhận biết) và “như thế
nào” (mạng lưới chiến lược) [tức: Tại sao phải
học? Học cái gì? Học như thế nào?]. Hãy xem
như người đồng sáng lập CAST, David Rose
giải thích do tại sao UDL lại nhấn mạnh đến
tính thay đổi thay vì khuyết tật: https://youtu.be/
rlv6JJQOz64
CAST đã phát triển bản hướng dẫn UDL4 dựa
trên 3 nguyên tắc chính thống nhất với mạng
lưới học tập. 3 nguyên tắc chính của UDL là: sự
gắn kết [engagement], phương thức trình bày
[representation], hành động diễn đạt [action
and expression].
Bảng dưới đây bao gồm 3 nguyên tắc của UDL
đã được sửa đổi từ CAST. đồng thời cũng
cho bạn một vài câu hỏi để cân nhắc liệt kê
một số dụ thực tế của các nguyên tắc này.
Bạn có thể in nó ra trong 1 trang giấy để có thể
sử dụng nó khi bạn lên kế hoạch cho bài giảng,
các hoạt động hay các nề nếp học tập cho học
sinh của bạn.
4 Xem thêm tại: https://udlguidelines.cast.org/
16 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
Cung cấp đa phương tiện cho sự tham gia
Làm thế nào để tôi có thể giúp tất cả học sinh của
mình tham gia vào lớp học?
Tôi trao cho học sinh quyền lựa chọn sự tự
chủ bằng cách nào?
• Làm thế nào để tôi khiến cho việc học tập phù
hợp với nhu cầu và mong muốn của học sinh?
• Bằng cách nào để lớp học của tôi chấp nhận
hỗ trợ tất cả các em học sinh?
Ví dụ:
• Khảo sát học sinh về sở thích, điểm mạnh và
nhu cầu của các em. Kết hợp những phát hiện
này vào trong bài dạy.
• Sử dụng bảng menu các lựa chọn và làm việc
hướng tới mục tiêu.
Tuyên bố mục tiêu học tập thật ràng
theo cách khiến nó trở nên phù hợp với học
sinh.
Cung cấp đa phương tiện cho phương thức trình bày [thông tin]
Làm thế nào để tôi có thể thể hiện các thông tin
theo những cách tiếp cận tất cả những người học?
• Liệu tôi đã cân nhắc tới các lựa chọn liên quan
tới in ấn văn bản, tranh ảnh, bảng biểu được hiển
thị?
• Tôi cung cấp những lựa chọn nào cho học sinh
cần hỗ trợ về đọc viết hay thính giác?
Ví dụ:
Điều chỉnh cỡ chữ, màu nền với công nghệ
nhằm giúp nó trở nên dễ dàng hơn học sinh.
Cung cấp các tùy chọn để tương tác với văn
bản, chẳng hạn như chuyển văn bản thành
giọng nói, sách nói hoặc đọc cùng bạn.
Cung cấp đa phương tiện cho hành độngdiễn giải [hiểu biết]
Làm thế nào tôi thể đưa ra những tùy chọn
mục đích cho học sinh để các em thể hiện những gì
mình biết?
Khi nào thì tôi thể dành những khoảng thời
gian và nhịp độ linh hoạt cho học sinh?
Liệu tôi đã cân nhắc tới các cách thức khác,
ngoài những nhiệm vụ trên giấy bút cho học sinh,
để thể hiện những gì các em biết?
Tôi có đang cung cấp cho học sinh quyền truy
cập vào công nghệ trợ giúp không?
Ví dụ:
• Cung cấp lịch và danh sách đầu việc để giúp
học sinh theo dõi các nhiệm vụ phụ nhằm đạt
được mục tiêu học tập.
• Cho phép học sinh thể hiện những gì các em
biết thông qua nhiều định dạng khác nhau,
chẳng hạn như bản trình bày áp phích hoặc
một bản đồ.
Cung cấp cho học sinh quyền truy cập vào
công nghệ trợ giúp phổ biến, chẳng hạn như
chuyển giọng nói thành văn bản và chuyển văn
bản thành giọng nói.
Kết nối gia đình
Các gia đình lẽ không mấy quen thuộc với
khái niệm học sinh người tham gia tích cực
vào việc thiết lập mục tiêu học tập của mình.
Họ lẽ sẽ thắc mắc về việc để học sinh đưa
ra quyết định học tập cho chính bản thân mình.
Hãy giải thích vào đêm tựu trường hoặc trong
email của lớp học rằng bạn sẽ sử dụng Thiết kế
Phổ quát cho việc học. Bạn thậm chí có thể chia
sẻ những bài báo dễ hiểu, thân thiện với các gia
đình về cách dạy học theo hướng tiếp cận UDL.
Hãy đảm bảo với các gia đình rằng bạn có một
kỳ vọng cao đối với tất cả các em học sinh,
rằng các em sẽ trở thành những người học tập
chuyên nghiệp trong lớp của bạn. hãy giải
thích rằng bạn sẽ tiếp tục làm việc với học sinh,
với gia đình để xây dựng các kỹ năng và sự chú
tâm để biến điều này thành hiện thực.
Các tài nguyên CAST bổ sung để khám phá:
Universal Design for Learning: Theory & Prac-
tice của Anne Meyer, David H. Rose, & David
Gordon
UDL Now! A Teacher’s Guide to Applying Univer-
sal Design for Learning in Today’s Classrooms
của Katie Novak
Let Them Thrive: A Playbook for Helping Your
Child Succeed in School and in Life của Katie
Novak
17
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
1Kok-Sing Tang | Phương Thục dịch
Dường như trong thời buổi này, sự mất lòng tin
vào lời khuyên chính thống về sức khỏe việc
tràn lan những phương pháp điều trị “thay thế”
cho COVID-19 cũng đang trở nên đáng sợ như
chính virus vậy. Làm thế nào mà rất nhiều người
(và dường như họ cố tình lựa chọn để trở nên)
thiếu hiểu biết về đại dịch này như thế, bất chấp
chế độ giáo dục khoa học bắt buộc từ nhiều thập
kỷ trước?
nhiên chúng ta đang bước vào thời đại hậu-
sự thật, nơi mà tin giả và đủ mọi loại thuyết âm
mưu ồ ạt bùng nổ, trong khi những thông tin dữ
kiện đã được khoa học chứng minh lại nhận về
sự khinh rẻ.
1 Nguồn: https://theconversation.com/teach-
questions-not-answers-science-literacy-is-a-crucial-
skill-144731
DẠY VỀ CÂU HỎI THAY VÌ CÂU TRẢ LỜI
Tuy nhiên vấn đề sâu xa hơn nằm trong chính
cách chúng ta giáo dục về khoa học. Khung
chương trình học và giảng dạy vẫn đang được dẫn
dắt bởi sự thông thạo về nội dung và các phương
pháp tuyển sinh với tỷ lệ may rủi cao, điều này
đã khiến nhiều người trẻ tỏ ra xa lánh với các ý
tưởng khoa học.
Các học sinh được dạy về những sự thật một cách
biệt lập vô vị không hiểu về lịch sử cũng
như quá trình mà các nhà khoa học tìm hiểu về
những điều chúng ta được học như thế nào.
Đó là hệ quả từ việc thiếu mất một sự giáo dục về
năng lực khoa học.
Chương trình giáo dục nước Úc định nghĩa về
năng lực khoa học là: “Một khả năng sử dụng
kiến thức nền tảng khoa học, sự hiểu biết và
kỹ năng tìm hiểu để xác định các câu hỏi, lĩnh
18 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
hội kiến thức mới, giải thích một hiện tượng khoa
học và đưa ra kết luận – dựa trên bằng chứng để
hiểu thế giới này vận hành như thế nào, cũng như
nhận ra tầm quan trọng của sự hiểu biết về khoa
học trong việc giúp chúng ta đưa ra những quyết
định có tính trách nhiệm và từ đó định hình cách
chúng ta kiến giải thông tin.”
Mặc dù được tán dương như là mục tiêu của giáo
dục, nhưng năng lực khoa học lại ít được nhấn
mạnh tới trong quá trình học tập. Chúng ta cần
phải làm nhiều hơn nữa để thúc đẩy nó trong các
trường tiểu học và trung học.
Tại sao chỉ sự thật thôi là không đủ
Vấn đề mọi người không tin tưởng vào khoa học
thì không mấy liên quan tới trí thông minh hay
trình độ học vấn tổng thể của họ. Dẫu sao, một
số người có học thức vẫn tin vào chuyện trái đất
phẳng sự biến đổi khí hậu vẫn còn đang gây
tranh cãi.
Để khiến một người chấp nhận một ý kiến mới thì
họ cần phải bước ra khỏi khối óc cố hữu và cân
nhắc rộng hơn đến các yếu tố địa vị, văn hóa
cảm xúc của người đó.
Nhà tâm lý học hội người Mỹ Jonathan Haidt
sử dụng sự tương đồng của thuyết “con voi
người cưỡi nó” để giải thích tại sao chúng ta lại
tỏ ra chống đối tới những ý tưởng và niềm tin
mới. Người cưỡi mặt trí của tâm trí chúng
ta, trong khi con voi là phần vô thức và cảm xúc.
Để thay đổi quan điểm của một người, nếu chỉ
tập trung tới người cưỡi mà không để tâm tới con
voi thì cũng sẽ không mang lại tác dụng.
Khoa học vàn những ý tưởng kỳ quặc
đôi lúc cũng trái ngược với lẽ thường, như
vật chất được tạo nên từ các nguyên tử chuyển
động hay thời gian thì mang tính tương đối. Giảng
dạy về những ý tưởng đó như những sự thật
riêng lẻ giống như chỉ tập trung vào người cưỡi.
Nhiều nhà luận giáo dục từ lâu đã tranh cãi
về ý kiến rằng kiến thức được “chuyển giao” từ
các giáo viên và sách giáo khoa sang học viên
bằng cách nào đó sẽ không vững chắc. Các học
viên vẫn sẽ diễn giải nội dung họ được giảng dạy
thông qua một khung khái niệm từ kiến thức
niềm tin mà họ đã có trước đó.
Nhiều năm nghiên cứu về khoa học giáo dục cho
thấy rằng giảng dạy về những sự thật riêng biệt
chiến lược không hiệu quả khi muốn thay
đổi quan niệm sai lầm vốn đã ăn sâu vào tâm trí
hay “những lý thuyết khác” của một người.
Một cách tiếp cận mới về giảng dạy năng lực
khoa học
Các lý thuyết khoa học được xây dựng dựa trên
những bằng chứng thông qua quá trình tranh
luận. Mỗi sự thật và lý thuyết được dạy trong
chương trình giáo dục nên được đặt nghi vấn
được kiểm chứng với bằng chứng ràng. Các
học sinh cũng nên quan sát kỹ càng hoặc tự mình
thu thập các dữ liệu.
Có nhiều cách thực tế để chứng minh trái đất có
hình tròn mà có thể được diễn tả trong một tiết
lớp học. Ví dụ, một phòng học ở Perth có thể kết
nối online với một phòng học khác Bali (2 địa
điểm có cùng kinh độ) để cùng nhau đo bóng của
một chiếc gậy dài 1 mét dưới nắng và sử dụng kết
quả có được để tính ra chu vi của trái đất.
Không ngừng yêu cầu các học sinh đặt ra câu
hỏi về mỗi sự thật vẫn sẽ tạo nên giá trị trọn đời
về năng lực then chốt trong khoa học. cũng
vô cùng quan trọng nếu lớp trẻ luôn luôn có khả
năng đánh giá nguồn gốc của thông tin và phân
biệt được những tuyên bố sai sự thật không
bằng chứng thực chứng, đơn cử như uống thuốc
tẩy để trị virus corona.
Khoa học cũng nên được giảng dạy như một cuộc
đối thoại trong một cộng đồng dân cư. Đây là
19
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
khía cạnh con người của khoa học nơi mà những
ý tưởng được thảo luận, tranh luận và thương
lượng trong quá trình tạo dựng nên một sự đồng
thuận.
Tương tự như quá trình đó, các học sinh phải
được trao thật nhiều cơ hội để luyện tập kỹ năng
tranh luận có bằng chứng. Các lý thuyết ban đầu
của các nhân về thế giới này nên được khơi
gợi ra đem so sánh với những lý thuyết khoa
học đã được công nhận, để học sinh có thể thấy
được giá trị sự phù hợp một cách tương đối
của chúng trong việc giải quyết một hiện tượng
hoặc một vấn đề cụ thể.
Cảm xúc cũng chiếm một phần không nhỏ
cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng,
cảm xúc đóng vai trò lớn trong việc học về khoa
học. Các vấn đề về
khoa học đại diện cho
các mối quan tâm xã
hội (chẳng hạn như
lệnh phong tỏa),
các vấn đề liên quan
tới khoa học và công
nghệ (mạng 5G) đều
thể châm ngòi cho
cả một loạt các cung
bậc cảm xúc ở mỗi học
sinh.
Điều quan trọng
đây là phải ghi nhận
các cảm xúc của học
sinh khi chúng phải
đối mặt với các vấn đề
nhân cách đạo đức
trong các ý tưởng đó.
Các vấn đề gây tranh
cãi không chỉ cung cấp
cho một bối cảnh đích
thực để học hỏi,
còn là những chủ đề
không thể thuận lợi hơn để tranh luận phản
biện qua lại.
Một vài nghiên cứu đã tìm ra rằng việc cho phép
các học sinh biểu đạt những cảm xúc nhân
trong các buổi học thông qua các lần tranh luận
về các vấn đề hội dựa trên khoa học thể
giúp nâng cao sự đồng cảm khuynh hướng
của chúng về khoa học.
Mục tiêu về năng lực khoa học không phải một
điều mới mẻ. Tuy nhiên, tình hình dịch COVID-19
bùng phát đã càng cho thấy sự quan trọng và
cấp thiết hơn của nó. Năng lực khoa học giờ đây
không còn chỉ là kỳ vọng giáo dục sẽ tốt nếu đạt
được nữa, hiện tại một mối quan tâm tức
thời gây ảnh hưởng trực tiếp tới sự sống còn của
chúng ta trong một xã hội hậu-sự thật như hiện
tại.
20 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 30 - 2020
1Helen Hamlyn Centre for Pedagogy (HHCP) |
Giang Trần dịch
Nguyên tắc 7: Lập kế hoạch cho việc học là cần
thiết và cần có mục tiêu cho việc học.
Trẻ em vốn rất nên rất nhiều điều
trẻ học được đến từ những hoạt động tương
tác trong gia đình. Chúng ta có thể mở rộng việc
1 Nguồn: https://www.ucl.ac.uk/ioe/depart-
ments-and-centres/centres/helen-hamlyn-centre-pedago-
gy-0-11-years/pedagogy-plain-terms
học của trẻ bằng cách lập kế hoạch cho việc học.
Việc lập kế hoạch này cho phép cha mẹ chỉ cho
trẻ những điều trẻ chưa biết và giúp trẻ mở
rộng kiến thức về những điều mà trẻ hứng thú.
Ở mức độ cơ bản nhất, lập kế hoạch học tập chỉ
đơn giản suy nghĩ trước trẻ đã biết những gì,
trẻ có thể học được điều thông qua những
trẻ đã biết hoặc đã được trải nghiệm. Kế hoạch
này không cần phải viết ra giấy nhưng nếu viết ra
HIỂU VỀ PHẠM THEO MỘT CÁCH
ĐƠN GIẢN - KỲ 2
12 nguyên tắc về dạy học các bậc phụ
huynh nên biết.
21
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 30 - 2020
có thể giúp cha mẹ suy nghĩ kỹ hơn về những
ba mẹ mong muốn con mình sẽ học được. Ví dụ,
ghi chú đơn giản vào sổ, đây cũng có thể xem là
một phần của nhật ký học tập.
Nguyên tắc 8. Điều chỉnh kế hoạch học tập linh
hoạt như thay đổi hoạt động theo sở thích của
trẻ hoặc tranh thủ giúp trẻ học thông qua những
sự kiện xảy ra bất ngờ.
Mặc dù lập kế hoạch học tập là cần thiết, nhưng
đôi khi việc đi lệch hướng kế hoạch cũng tốt
còn lợi hơn. Hãy tưởng tượng bạn đã lên kế
hoạch để trẻ vẽ một bức tranh về các đồ vật mà
trẻ yêu thích. Nhưng sau đó một cơn mưa
rất to xuất hiện và đứa trẻ bị thu hút bởi những
giọt mưa đang rơi xuống. Trong tình huống này,
chúng ta có thể linh hoạt bằng cách thay yêu
cầu vẽ các đồ vật, bạn có thể đề xuất trẻ hãy vẽ
cơn mưa kia hoặc trẻ có thể làm các thí nghiệm
để ước lượng xem mưa bao lâu thì nước mưa có
để đổ đầy các bình chứa khác nhau.
Đôi khi trẻ sẽ thích tham gia vào những hoạt động
không trong kế hoạch của chúng ta, lúc này
chúng ta có thể tạm quên kế hoạch của mình
cùng trẻ hòa mình vào hoạt động mới. Vào những
thời điểm khác, việc học của trẻ sẽ là tốt nhất khi
chúng ta giúp trẻ tập trung trở lại vào hoạt động
hiện tại. Chúng ta hãy nhớ là trẻ có thể học thông
qua các bài học đã được lên kế hoạch trước hoặc
trẻ cũng có thể tự học. Ví dụ thông qua việc chơi
đùa, trẻ có thể tự học được nhiều điều.
Nguyên tắc 9. Việc học không chỉ bao gồm học
kiến thức mà còn là những kỹ năng, khả năng
duy nhiều chiều và cảm xúc.
Chúng ta biết có những người biết rất nhiều
thông tin, họ có thể trả lời các câu đố rất giỏi. Đó
là một ví dụ về một “dạng” học tập. Một dạng học
tập khác là kỹ năng.
dụ, trẻ thể biết đến xe đạp. Điều này thể
hiện qua việc trẻ có thể liệt kê các bộ phận của
xe đạp như là: xe đạp có hai bánh, có phanh xe,
có dây xích, có gương chiếu hậu,... nhưng không
nghĩa là trẻ có thể chạy xe đạp được. Chạy
xe đạp thể coi một kỹ năng trẻ cần sự
hướng dẫn từ người lớn. Để có thể chạy xe đạp,
nó đòi hỏi trẻ giữ được thăng bằng, tự tin, giữ an
toàn và có sự luyện tập.
Quá trình trẻ học chạy xe đạp mang lại những
niềm vui sự thỏa mãn. Đối với những người
quan tâm đến xe đạp, việc học có thể dẫn dắt họ
đến các cuộc thi hoặc là cơ khí và kỹ thuật. Học
tập hiệu quả cần sự cân bằng giữa sự phát
triển khác biệt giữa kiến thức, kỹ năng và những
hiểu biết khác.
Một khía cạnh quan trọng của kiến thức thực tế2
là nó phụ thuộc vào quan điểm hay niềm tin của
người học. dụ: một số người không tin rằng
biến đổi khí hậu là do hoạt động của con người
gây ra nhưng hầu hết các nhà khoa học khí hậu
hàng đầu thế giới lại tin là như vậy. Điều này làm
dấy lên một câu hỏi về việc tin ai và tại sao chúng
ta nên tin họ? “Sự thật, niềm tin và bằng chứng”
là một mảnh đất màu mỡ khác trải khắp các chủ
đề học tập.
Nguyên tắc 10. Các chủ đề học tập cần trải rộng
vừa đủ và có cân bằng
Trẻ cần được làm quen với nhiều chủ đề học tập.
trường thì trẻ sẽ được làm quen với các môn
học, các chủ đề học tập sẽ được tổ chức thành
các cụm bài học. Các môn học như nhạc, kịch
và nghệ thuật thị giác (chụp hình, vẽ, điêu khắc,
.v.v) sẽ tạo cơ hội để trẻ được vui chơi, trình diễn,
sáng tác, nhìn và nghe. Các môn học xã hội nhân
văn sẽ tập trung nhiều cách duy (như là
2 Kiến thức thực tế - factual knowledge: Theo
Krathwohl (2002), kiến thức có thể được phân thành bốn
loại: (1) kiến thức thực tế - factual knowledge , (2) kiến thức
khái niệm - conceptual knowledge, (3) kiến thức “quy trình”
- procedural Knowledge , và (4) kiến thức siêu nhận thức
metacognitive knowledge (chú thích của người dịch)
22 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 30 - 2020
triết học), thời gian và địa điểm (lịch sử và địa lý),
tôn giáo, văn học và thơ ca.
Toán học khoa học thì tập trung vào các các
giả thuyết, thử nghiệm và tìm kiếm giải thích về
những điều thuộc về tự nhiên. Ngoài ra, những
thứ không nằm gói gọn trong một môn học
thể hiện trong nhiều môn học như sự
sáng tạo, sự hợp tác và ngôn ngữ.
Nguyên tắc 11. Trải nghiệm thực tế mang lại
hiệu quả cho việc học.
Thông thường việc học qua các trải nghiệm thực
tế sẽ hiệu quả hơn là chỉ học qua nói và nghĩ về
chủ đề học tập đó.
Chúng ta hãy cùng lấy ví dụ về âm nhạc, việc
nghe các loại bài hát pop khác nhau sẽ rất thú
vị và bạn có thể tìm hiểu về lời bài hát, ban nhạc
và các yếu tố của âm nhạc như các loại nhạc cụ .
Tuy nhiên, nghe nhạc thì thụ động hơn so với việc
“làm” nhạc. Thay vì chỉ nghe nhạc, trẻ có thể học
qua thực hành bằng cách “làm” nhạc như tập hát
một bài hát sau đó ghi âm lại, nghe lại bài hát đã
được ghi âm và thảo luận về bài hát đó.
Nếu có nhạc cụ trong nhà, trẻ có thể thử học chơi
nhạc cụ đó. Nếu không, trẻ có thể tạo ra các âm
thanh đơn giản bằng giọng nói của chính mình
hoặc vỗ tay hay là vỗ vào các dụng cụ như ly, chảo
và chuông gió. Khi trẻ bắt đầu tạo ra một chuỗi
các âm thanh, thì lúc đó trẻ cũng đang bắt đầu
sáng tác nhạc. Bạn có thể khuyến khích trẻ ghi
lại đoạn nhạc đó trong sổ tay âm nhạc của mình.
Nguyên tắc 12. Các tài nguyên học tập3 như máy
tính chỉ có thể phát huy tác dụng trong việc học
tập nếu có các nguyên tắc sư phạm phù hợp.
Học tập đòi hỏi phải có phương tiện đi kèm. Học
văn cần sách. Tìm hiểu về khủng long thì cần có
thông tin, hình ảnh văn bản về khủng long.
3 Tài nguyên học tập bao gồm: máy tính, sách vở,
phần mềm .v.v.
Học viết cần có giấy và bút.
Tất cả những điều trên có thể được hỗ trợ hoặc
bị cản trở bởi các thiết bị kỹ thuật số như là máy
tính. Nhưng không chỉ các tài nguyên mới đóng
vai trò quan trọng, mà phương pháp sư phạm
hay nói cách khác sự tương tác giữa người học
người làm giáo dục4 mới điều quan trọng.
Chỉ khi có phương pháp sư phạm tốt thì bất kỳ tài
nguyên học tập nào cũng phát huy hết tiềm năng
của nó để giúp ích cho việc học.
4 Người làm giáo dục: giáo viên, phụ huynh, .v.v.
23
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 30 - 2020
TRẺ SẼ HỌC TẬP TỐT HƠN NẾU
KHÔNG PHẢI NGỒI YÊN MỘT CHỖ
24 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 30 - 2020
1Những bài thể dục ngắn trong giờ có thể sẽ
nâng cao hiệu quả học tập của trẻ
Christopher Bergland | Quốc Việt dịch
Theo một đánh giá phân tích tổng hợp quốc tế
mới đây, trẻ em ở độ tuổi đi học có thực hiện hoạt
động thể chất ngắn trong lớp học như: bật nhảy
kết hợp dang tay, chân, nhảy cao, chạy bộ tại
chỗ,... sẽ học tập tốt hơn các bạn cùng trang lứa
nhưng ít vận động hơn.
Emma Norris từ Đại Học College London đã dẫn
dắt cuộc nghiên cứu này với sự phối hợp của một
nhóm các đồng nghiệp liên ngành. Những phát
hiện đó đã được xuất bản trên Tạp chí Y học Thể
thao Anh vào ngày 16 tháng 10 năm 2019.
Các tác giả của nghiên cứu cho hay: “Đánh giá
này cung cấp phân tích-tổng hợp đầu tiên về tác
động của các bài học hoạt động thể chất đối với
thời gian học và hoạt động Thể chất tổng thể
(physical activity), cũng như sức khỏe, nhận thức,
và kết quả giáo dục.
Khoảng một nửa trong số 42 nghiên cứu được
xem xét cho nghiên cứu phân tích-tổng hợp này
được thực hiện ở Mỹ. Một số nghiên cứu khác về
các lợi ích liên quan đến việc xen kẽ hoạt động
thể chất vào học tập cho học sinh từ 3 đến 14
tuổi được thực hiện tại Úc, Trung Quốc, Croatia,
Ireland, Israel, Lan, Bồ Đào Nha, Thụy Điển
và Vương quốc Anh.
Các chương trình rèn luyện thể chất trong lớp
học đều lợi cho cả học sinh các nhà giáo
dục, bởi các hoạt động đó tạo tiền đề cho kết
quả học tập tốt hơn không phải giảm thời
gian học tập trong trên lớp.
Bài học chính từ nghiên cứu phân tích-tổng hợp
1 Nguồn: https://www.psychologytoday.com/intl/
blog/the-athletes-way/201910/kids-who-arent-glued-their-
classroom-chairs-learn-better
này là: việc đưa hoạt động thể chất vào các tiết
học trong nhà trường sẽ dẫn tới điểm kiểm tra
tốt hơn, thay vì chỉ để học sinh ngồi yên trong lớp.
Sau khi xem xét dữ liệu từ hàng chục nghiên cứu
được với sự tham gia của 12.633 trẻ em trong độ
tuổi đi học, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng
“việc kết hợp hoạt động thể chất ảnh hưởng
lớn đáng kể đến kết quả giáo dục trong giờ
học, chúng được đánh giá qua các bài kiểm tra
hoặc bằng phương pháp quan sát sự tập trung
của học sinh đối với một nhiệm vụ được giao.”
Trong một thông cáo qua tạp chí, Emma Nor-
ris, tác giả chính của UCL Centre for Behaviour
Change cho biết: “Yếu tố lớn nhất dẫn đến đời
sống ít vận động của trẻ em là do 7 hoặc 8 giờ mỗi
ngày chỉ lì trong lớp học. Nghiên cứu của chúng
tôi cho thấy rằng các bài hoạt động thể chất là một
phần bổ sung hữu ích cho chương trình học. Các
bài học này có thể tạo ra một trải nghiệm học tập
đáng nhớ, giúp trẻ học tập hiệu quả hơn.”
Đồng tác giả Tommy van Steen của Đại học
Leiden, Lan cho biết thêm: Những cải thiện
về mức độ hoạt động thể chất và các thành quả giáo
dục là kết quả từ những bài tập thể chất khá cơ bản.
Giáo viên thể dễ dàng kết hợp các bài tập thể
chất này vào chương trình học hiện hành để giúp
trải nghiệm học tập của học sinh được tốt hơn.”
Trong phần cuối của bài viết, các tác giả đã viết:
Ở các cơ sở tiểu học và mầm non, khi các bài
giảng có đi kèm hoạt động thể chất được thêm vào
chương trình giảng dạy, chúng đem lại tác động
tích cực đến cả hoạt động thể chất và kết quả giáo
dục. Những phát hiện này sẽ hỗ trợ các sáng kiến
giúp khuyến khích việc tích hợp các bài giảng
kèm các hoạt động thể chất được dạy các cơ sở
tiểu học và mầm non.
25
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 30 - 2020
Aristotle đã đúng: Học kiểu lưu động giúp trí
não tiếp thu thông tin.
Nhiều thế kỷ trước, Hy Lạp cổ đại, Aristotle
(384–322 TCN) dường như đã lĩnh hội được tầm
quan trọng của việc di chuyển thể trong lúc
học. Thay vì chỉ để các học sinh của mình (chẳng
hạn như Plato) ngồi yên trong các lớp học Ly-
ceum, Aristotle thích dạy cả lớp mình trong khi
mọi người cùng đang đi bộ.
Lyceum là một ngôi trường kiểu Peripatetic.
“Peripatetic” nguồn gốc từ một từ tiếng Hy
Lạp cổ peripatētikós, nghĩa “đi bộ” hay
“cho phép dạo quanh”.
Giống như nhiều đứa trẻ hiếu động tràn đầy
năng lượng khác, tôi từng luôn được yêu cầu phải
“Ngồi yên xuống và đừng di chuyển nữa!” bởi các
giáo viên mẫu giáo tiểu học của tôi. Lúc ấy,
trường học của tôi có một loạt những cái ghế gấp
liền bàn cho mỗi học sinh, để ngồi vào ghế của
mình thì học sinh phải tiếp cận từ cạnh bên
chúng phải bất động ở một vị trí cố định đó suốt
cả tiết học. Đối với tôi, những chiếc ghế liền bàn
túng đấy giống như một thiết bị tra tấn thời
Trung cổ, được đặc biệt thiết kế để khiến người
dùng nó không thể cử động cảm thấy như bị
mắc kẹt trong một chiếc áo cho bệnh nhân
tâm thần.
Phản ứng của tôi khi bị hạn chế về mặt thể chất
là trở thành kẻ mơ mộng giữa ban ngày, và tự tiêu
khiển bằng cách thêm các hiệu ứng âm thanh
được lấy cảm hứng từ Charlie Brown2 vào giọng
nói của bất kỳ giáo viên độc tài nào đang giảng
bài. Xem đoạn phim hoạt hình (ở trên) khiến tôi
nhớ lại cảm giác bị ép phải ngồi yên khi còn học
tiểu học vào đầu những năm 1970. nhân tôi
thực sự chỉ học được rất ít trong môi trường dạy
học kiểu “chống lưu động” này.
2 https://www.youtube.com/watch?v=ss2hULhX-
f04&feature=youtu.be
May mắn thay vào cuối những năm 1970, khi
tôi học lớp bảy, gia đình tôi chuyển đến sống
Brookline, bang Massachusetts, họ đăng
cho tôi học tại trường trung học “The Park
School” - một trường tư thục ngoại trú ngay bên
ngoài Boston. Học sinh tại trường Park không bị
buộc phải ngồi yên mọi lúc, chúng tôi được
khuyến khích vận động cơ thể và dành nhiều thời
gian ra ngoài khám phá thiên nhiên như một
phần của chương trình học.
Ảnh chụp từ trên không khuôn viên Trường Park ở
Brookline, MA
Nguồn: Kate Lapine/Wikipedia Commons
Hiệu trưởng của Trường Park trong khoảng thời
gian đó, thầy Bob Hurlbut, Jr., là một người
tầm nhìn xa, ông người đã thúc đẩy nền giáo
dục “không ranh giới” đã làm việc với các
kiến trúc của trường để thiết kế các phòng
học không có vách tường. Cũng giống như Lyce-
um, khuôn viên rộng 34 mẫu Anh (khoảng 13,7
ha) của trường Park có một “Vườn Học Tập Ngoài
Trời”, và nó được bao quanh bởi không gian xanh
với các lối đi bộ, phòng tập thể dục, hồ bơi và sân
chơi.
Tất nhiên, học phí của các trường tư thục rất đắt
và nhiều gia đình không có đủ khả năng tài chính
để chi trả. Do đó, các nhà hoạch định chính sách
cấp địa phương, tiểu bang liên bang phải
hiểu được tầm quan trọng của việc cam kết cung
cấp các nguồn lực của trường công cho việc học
tập “có lưu động” hơn.
26 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 30 - 2020
Trong vài năm qua, hàng chục nghiên cứu đã
chỉ ra rằng hoạt động thể chất tích hợp các
chuyển động toàn thân vào việc học trên lớp sẽ
giúp học sinh tập trung, ghi nhớ thông tin và đạt
điểm cao hơn trong các bài kiểm tra. Nghiên cứu
phân tích-tổng hợp mới nhất của Norris cùng
các đồng nghiệp (2019) cung cấp toàn bộ các tài
liệu tham khảo cho bằng chứng thực nghiệm,
càng khẳng định thêm tầm quan trọng của các
bài giảng có đi kèm hoạt động thể chất trong lớp
học
Hy vọng rằng những ngày tháng ép buộc bọn trẻ
phải ngồi yên trong giờ học đã qua. Ngoài việc
khuyến khích tập thể dục trước/sau tiết học
trong giờ ra chơi, việc bổ sung các bài học hoạt
động thể chất ngắn trong lớp học vẻ như sẽ
tạo điều kiện để giúp các em học tập tốt hơn.
27
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 30 - 2020
SỰ KHÁC BIỆT GIỮA KỶ LUẬTTRỪNG PHẠT?
1 Amanda Morin | Khuất Tuấn dịch
Kỷ luật và trừng phạt có giống nhau không? Mọi
người thường sử dụng các thuật ngữ này thay thế
cho nhau, tuy vậy giữa chúng lại có sự khác biệt.
Kỷ luật là cách để dạy những đứa trẻ tuân theo
các quy định hoặc sửa chữa các hành vi sai trái.
Có kỷ luật tiêu cực và kỷ luật tích cực.
Hình phạt là một hình thức của kỷ luật tiêu cực.
Nó thường được sử dụng nhằm loại bỏ hoặc kết
thúc 1 hành vi không mong đợi. Kỷ luật tích cực,
thứ đôi khi được hiểu hệ quả nhằm để sửa
chữa [corrective consequences] hành vi hoặc
1 Nguồn: https://www.understood.org/en/
school-learning/for-educators/classroom-management/
the-difference-between-discipline-and-punishment?_
ul=1*1e3qhb1*domain_userid*YW1wLXpDSk5HZzhLcn-
hIZWZZd1JJLVo5THc.
các hướng dẫn mang tính tích cực [positive
guidance], cũng diễn ra nhanh. Và nó có thể hiệu
quả hơn là sự trừng phạt.
Khi đứa trẻ khiến cho bạn căng thẳng hoặc
không tuân thủ theo các quy tắc của bạn, bạn có
thể nhanh chóng đưa ra cho chúng một hệ quả
làm cho chúng khó chịu để dừng lại hành vi mà
chúng đang làm. Đó phản ứng phổ biến khi
bạn cảm thấy thất vọng, tức giận hoặc đơn giản
là chán nản. Nhưng nó không có khả năng giúp
đứa trẻ thay đổi hành vi về lâu dài.
Hãy xem xét tình huống sau: Sandra và Javier đã
tranh cãi về hộp bút chì màu suốt cả buổi chiều.
Một trong hai đứa đã đẩy người kia và chúng bắt
đầu tranh cãi. Bạn có thể nói rằng: “Hai em, dừng
lại. Hôm nay, hai em sẽ không được phép ra ngoài”.
28 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 30 - 2020
Đó là sự trừng phạt. Nó có thể giúp dừng lại hành
vi này ngay tức khắc nhưng không dạy được cho
Sandra và Javier kỹ năng mà chúng cần để đưa
ra một quyết định tốt hơn cho lần tranh cãi tới.
Khi bạn sử dụng kỷ luật tích cực, bạn có thể nói:
“Đưa hộp bút chì màu đó. Không bạn nào
thể sử dụng ngay bây giờ. Sandra, hãy hít thở
sâu nào em. Bây giờ hãy sử dụng câu mà chúng ta
đã luyện tập ngày hôm qua để cho Javier biết tại
sao em lại giận dữ.” Bạn có thể vẫn cảm thấy khó
chịu bực bội. Nhưng bạn biết rằng bạn đang
chuẩn bị cho một kết quả tốt hơn cho lần tới.
Kỷ luật tích cực không khuyến khích hành vi.
Nhưng nó dạy cho trẻ những kỳ vọng và tinh thần
trách nhiệm của mình. Nó cũng giúp những đứa
trẻ nhìn thấy mối liên hệ giữa những chúng
làm những xảy ra tiếp theo – hệ quả tự
nhiên và hệ quả logic.
Tìm hiểu thêm về sự trừng phạt và kỷ luật.
Kỷ luật tiêu cực/
Hình phạt Kỷ luật tích cực/
Hệ quả nhằm sửa lỗi
Cách tiếp
cận Bị động: Xử lý tình huống mang
tính thời điểm Chủ động: Xử tình huống mang tính thời
điểm và dạy trẻ em những kỹ năng cho
tương lai
Nó là gì? Hình phạt cho việc làm sai.
cố gắng thay đổi hành vi về sau
của trẻ bằng các khiến trẻ phải
“trả giá” cho những hành vi sai
trái đã làm.
Một hệ quả tự nhiên và logic cho những
hành vi sai trái. Mục đích của nó nhằm thay
đổi cách cư xử về sau của đứa trẻ bằng cách
giúp chúng học từ sai lầm.
Điểm
trọng tâm Cho phép bạn kiểm soát hành
vi của trẻ đưa ra hệ quả cho
quyết định của chúng.
Cho phép trẻ kiểm soát hành vi và các quyết
định của mình bằng cách dạy trẻ những kỹ
năng mới như: tự kiểm soáttự điều chỉnh.
Quan điểm Giả định rằng hành vi đó hoàn
toàn điều “sai trái” hay “xấu
xí” (mà không cố gắng đi tìm
hiểu nguyên nhân, động cơ,... ).
Cung cấp ít sự trợ giúp để tìm
hiểu cách cư xử khác đi trong
tương lai
Giả định rằng hành vi là một hình thức giao
tiếp.
Cung cấp sự trợ giúp cho trẻ học được cách
cư xử khác đi trong tương lai
29
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 30 - 2020
Nó như
thế nào? Những hệ quả không liên quan
trực tiếp tới những gì đang diễn
ra, chẳng hạn như tước đi những
đặc quyền quyền hoặc đồ dùng,
yêu cầu trẻ làm một nhiệm vụ
khó chịu hoặc đẩy thêm các
trách nhiệm, đưa thêm các đầu
việc hoặc thậm chí, trừng phạt
liên quan tới thân thể ở nhà.
(Các nghiên cứu2 cho thấy rằng sự
trừng phạt liên quan tới thân thể
thể làm tăng sự hung hăng các
hành vi tiêu cực khác).
Hệ quả phải đảm bảo 3 chữ R: hợp [rea-
sonable], liên quan tới vấn đề [related to the
problem] và là kết quả từ chính hành vi hay
hành động [resulting from the behavior or
action].
Hệ quả tự nhiên là kết quả tất yếu và không
tránh khỏi từ một hành động.
Hệ quả logic cũng liên quan tới hành động.
Nhưng chúng sẽ được sử dụng khi bạn can
thiệp bởi vì hành động này có thể khiến ai đó
bị thương hoặc bị thiệt hại.
Một vài ví
dụ về các
loại hệ
quả
Hệ quả tiêu cực:
Sandra đang trò chuyện với bạn
của mình trong khung giờ đọc
sách tĩnh, do vậy, cô giáo đã giao
thêm bài về nhà môn Toán.
Javier trượt ván trên đường khi
cậu ấy không được cho phép. Và
cậu ấy đã phải làm thêm phần
việc nhà của anh trai mình trong
một tuần.
Hệ quả tự nhiên:
Sandra đang trò chuyện với bạn của mình
trong khung giờ đọc sách tĩnh, do vậy cô ấy
phải tiếp tục đọc cuốn sách của mình. Cô ấy
sẽ bị bỏ lỡ chương trình TV yêu thích của cô
ấy nhà bởi ấy đã đọc lâu hơn so với
bình thường.
Hệ quả logic:
Javier trượt ván trên đường khi cậu ấy không
được cho phép. Bạn chỉ ra rằng cậu ấy đã
lựa chọn không tuân thủ theo các quy ước,
do vậy cậu ấy sẽ không được cho phép sử
dụng ván trượt trong ngày nữa.
Những
đứa trẻ
học được
gì?
Thông điệp “Bạn cần phải dừng
lại hành vi đó, nó sai”. Trẻ học được:
Trẻ không thể học được cách
kiểm soát hành động của mình.
Hành vi của các em cần được
quản lý bởi bạn.
Cẩn thận để không bị bắt gặp
còn quan trọng hơn thay đổi
những gì các em đang làm.
Thông điệp là “Đây là những gì bạn có thể hoặc
nên làm để thay thế.”. Trẻ học được:
Trẻ có thể kiểm soát hành động của mình.
Trẻ có thể tự quản lý hành vi của mình thông
qua quá trình tự kiểm soát.
Trẻ cần thay đổi hành vi của mình nhằm
tránh phải đối mặt với những hậu quả.
Kết quả Lòng tự trọng bị giảm đi
Tăng thêm những cuộc tranh cãi
liên quan tới quyền lực
Sự sợ hãi oán giận giữa hai
bạn
Làm giảm thành tích học tập
Tăng thêm lòng tự trọng
Làm giảm đi các cuộc tranh cãi liên quan tới
quyền lực
Xây dựng mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bạn
Làm tăng thành tích học tập
Không phải bạn lúc nào cũng luôn luôn tiếp cận được các hành vi theo cách mình mong muốn, đặc
biệt là trong những thời điểm căng thẳng. Nhưng bạn có thể lựa chọn cách thay đổi chúng, ở trường
cũng như ở nhà. Đọc câu chuyện của một gia đình đã tìm được đúng hướng đi như thế nào sau nhiều
năm quản lý một cách sai lầm (link https://bom.to/UKG8uYaH). Tìm hiểu thêm các hướng dẫn để
hiểu rằng các hành vi là một hình thức giao tiếp quan trọng (link https://bom.to/Ckzns3zF).
2 Tìm hiểu thêm tại: https://www.msd.govt.nz/about-msd-and-our-work/publications-resources/journals-and-mag-
azines/social-policy-journal/spj27/the-state-of-research-on-effects-of-physical-punishment-27-pages114-127.htm-
l#LongTermEffects6
30 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 30 - 2020
XÂY DỰNG NHỮNG MỐI LIÊN HỆ
THÔNG QUA NHỮNG BỨC THƯ TAY
1Shveta Miller2 | Nguyễn Tiến Đạt dịch
Tương tác với học sinh thông qua thư tay là một
cách tốt để giáo viên bồi dưỡng sự tin tưởng ở bất
thời điểm nào - đặc biệt trong thời điểm mà ai cũng
phải cách xa nhau.
Với việc dạy học từ xa gần như sẽ tiếp học trong
năm học tới đây, chúng ta cần những phương
1 Nguồn: https://www.edutopia.org/article/build-
ing-relationships-through-letter-writing
2 Shveta Miller đã dạy Tiếng Anh được 15 năm trong
các trường công tại Mỹ và nước ngoài. Hiện tại cô ấy giúp đỡ
những giáo viên những học sinh với vai trò huấn luận
viên hướng dẫn cho một trường cấp quận tại Oregon. Cô ấy đã
dành ra bốn năm với tư cách là chuyên gia tư vấn phát triển
năng lực đọc - viết cho công ty ed tech, đào tạo và hướng dẫn
giáo viên để đảm bảo phần mềm và chương trình của họ cung
cấp trải nghiệm học tập có ý nghĩa cho học sinh. Qua những
cảm xúc khó tả đến từ những bức thư cảm ơn từ học trò cũ, cô
ấy thấy được sự ghi nhận đặc biệt đến tác động quá trình học
tập của học sinh trên quy mô lớn thông qua việc huấn luyện
kết hợp với các giáo viên. Cuốn sách của cô ấy về tiểu thuyết
dạy học (dạng tranh ảnh) sẽ được xuất bản bởi nhà xuất bản
Times 10 trong năm 2021.
thức đơn giản để xây dựng mối liên hệ với những
học sinh không thể tiếp cận công nghệ. Giao tiếp
liên tục bằng thư tay, gửi qua đường bưu điện
là một cách thức như vậy, và đó cũng là một
phương thức mạnh mẽ để xây dựng sự tin tưởng
thân thuộc với học sinh. Zaretta Hammond giải
thích rằng sự tin tưởng đó nền tảng để giảng
dạy đáp ứng văn hóa có thể thay đổi tình hình học
tập kể cả đối với những học sinh dễ bị tổn thương
nhất.
Năm đầu tiên trong lớp học, tôi thấy một bạn học
sinh cá biệt chuyển một mẩu giấy cho một người
bạn trong lớp. Tôi đã suy nghĩ về việc tịch thu
nó tương tự như giáo viên của tôi đã làm. Nhưng
thay vì vậy, tôi đã viết cho bạn học sinh ấy vài lời
nhắn nhủ một mẩu giấy vào ngày hôm sau. Bạn
nữ đó đã viết thư trả lời, và chúng tôi đã tiếp tục
viết thư cho nhau cả năm học đó, sự tương tác
của ấy trong lớp học tăng lên cùng với mối
31
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 30 - 2020
liên hệ của chúng tôi. Viết thư đã trở thành công
cụ thiết yếu nhất của tôi để đạt được sự tin tưởng
của học sinh.
Khi chúng tôi viết thư cho học sinh với cách
là giáo viên và các em viết thư trả lời lại, chúng
tôi cân bằng sự ảnh hưởng (trên vai trò của giáo
viên và học sinh), học hỏi lẫn nhau, luyện tập giữ
khoảng cách cho những cảm xúc phức tạp và tiếp
cận bản năng của chúng ta với vai trò
người đọc và người viết. Dưới đây một vài gợi
ý để viết được những bức thư nghĩa cho học
sinh.
PHẦN MỞ ĐẦU CỦA BỨC THƯ
Để khuyến khích giao tiếp xác thực tức cân
bằng sự ảnh hưởng, hãy loại bỏ những nghĩa vụ
những kì vọng những học sinh tham gia.
Giữ những lá thư trở nên bình thường và tuyên bố
rằng những quy ước khi viết thư và nội dung sẽ
không bị đánh giá.
Thông báo với gia đình, lẽ bằng một thư
riêng, rằng bạn đang bắt đầu một cuộc hội thoại
với học sinh thông qua một bức thư riêng. Nhắc
nhở những phụ huynh học sinh rằng bạn sẽ
tôn trọng sự riêng tư của họ - nhưng bạn vẫn là
phóng viên được uỷ quyền.
Giữ sợi dây giao tiếp theo hướng mở và linh hoạt
hoạt bằng cách tránh những sự bởi thời
hạn và giới hạn số trang giấy. Hãy thông báo rằng
học sinh thể bắt đầu những chủ đề mới
không cần tiếp tục chủ đề khởi xướng bởi giáo
viên.
Viết bức thư đầu tiên cho những học sinh của
bạn (bạn có thể bắt đầu với một vài học sinh
trong một tuần), coi đó như một dụ hữu ích
cho những học sinh cảm thấy khó khăn với cách
thức lẽ không quen thuộc này. Đặt những
học sinh trong trạng thái thoải mái bằng cách
sử dụng giọng điệu thân thuộc, chia sẻ những
mẩu chuyện phiếm của bản thân, và kể cả những
câu chuyện hài hước hoặc những nét vẽ vui nhộn.
Quy ước viết thư kiểu mẫu như là đặt lịch hẹn và
ký tên vào bức thư.
VIẾT NHỮNG BỨC THƯ CỦA BẠN
Tôi thường thêm gia vị vào những bức thư của
mình với những câu hỏi chủ đề gợi ý để kích
thích học sinh phản hồi. Nhưng cách tiếp cận này
duy trì cấu trúc vai trò (của giáo viên và học sinh)
truyền thống trong giao tiếp lớp học, trong đó
giáo viên thiết lập cơ sở của cuộc hội thoại. Qua
thời gian, tôi đã học được cách tạo ra một khoảng
trống an toàn nhằm khuyến khích các cuộc hội
thoại chân thật.
Tham gia vào cuộc trò chuyện thay vì điều khiển
nó: Nếu tôi biết một học sinh chơi đàn cầm,
tôi sẽ không trực tiếp hỏi cậu ý về điều đó. Thay
vào đó, tôi viết về những trải nghiệm của mình
có liên quan đến chủ đề đó. Ví dụ, trong khoảng
thời gian rảnh rỗi, tôi thường tự nhủ mình sẽ kiên
định học cách chơi chiếc đàn ghi-ta của mình.
Tôi đang nghĩ đến việc thử tìm kiếm những video
trên Youtube, nhưng tôi lo rằng mình không
đủ nghiêm khắc để tự luyện tập nếu không
giáo viên. Bằng cách chia sẻ những suy nghĩ đó,
tôi mở ra những con đường trong giao tiếp. Học
sinh của tôi được tự do bắt đầu chủ đề này
phản hồi bằng nhiều cách khác nhau, thay vì chỉ
trả lời những câu hỏi cụ thể của tôi về đàn vĩ cầm.
Có lẽ cậu ấy sẽ không nhắc một chút nào đến cây
đàn của mình và thay vào đó lựa chọn để nói về
YouTube, miêu tả cậu ấy thường làm gì trong thời
gian rảnh, hoặc xoa dịu những lo lắng của tôi về
việc học nhạc cụ có dây.
Đặt những câu hỏi xuất phát từ sự tò mò về những
chủ đề mà học sinh khởi xướng: Những câu hỏi -
bắt đầu từ những điều học sinh lựa chọn để chia
sẻ với chúng ta, mời chúng ta thể hiện sự tò mò
thực sự - đòi hỏi những góc nhìn độc đáo của
32 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 30 - 2020
chúng ta, đưa ra những từ mới, ý tưởng mới
nhằm thăm dò nhằm suy nghĩ của học sinh. Khi
đã nhìn thấu được kho tàng tri thức độc đáo của
học sinh, chúng ta thể nhìn thấy những vốn
học thuật của các em. Chúng ta có thể sử dụng
sự thấu hiểu đó để lên kế hoạch hướng dẫn dựa
trên những gì học sinh đã biết.
Làm cho suy nghĩ của bạn trở nên hiện hữu: Khi
một người trẻ có cái nhìn thoáng qua về đời sống
suy nghĩ của người khác, đặc biệt ai đó nghĩ
một cách thú vị hữu ích, đó kiểu giáo dục
tốt nhất. Khi một học sinh gợi ý một ứng dụng,
tôi nên tải xuống, tôi trung thực về việc tôi đã cố
gắng giảm sự phụ thuộc vào điện thoại như thể
nào kể từ khi tôi nghiện một số trò chơi tôi
đã chơi. Tôi thêm vào rằng tôi đang cố để không
sử dụng điện thoại sau 6 giờ tối, và tôi sẽ để cho
cô ấy biết diễn biến của câu chuyện. Bằng cách
quan sát suy nghĩ của người khác, những học
sinh của chúng ta có thể học được những kĩ năng
bắt chước mới ngôn ngữ để xác định những
trải nghiệm cá nhân của các em.
Động viên mọi dạng biểu hiện, tôn trọng những
những sai lầm hoặc sự không trang trọng: Za-
retta Hammond nói rằng những sai lầm của học
sinh thông tin. Khi học sinh viết thư cho bạn
để kết nối và chia sẻ về cuộc sống của các em,
tránh trực tiếp bảo các em nên viết như thế nào.
Một cách đơn giản ghi chú lại những sai lầm
viết những thư phản hồi với những cấu trúc
đúng đắn. Sử dụng những thông tin này để lên
kế hoạch giảng dạy, nhưng đừng hướng dẫn ngay
trong bức thư bạn gửi.
Giữ khoảng trống cho những cảm xúc của học
sinh: Để duy trì những mối quan hệ viết thư
chung một cách công bằng, hãy tránh những lời
bình luận thể hiện quyền hạn của bạn vẫn là một
giáo viên. Thay vì đưa gợi ý những giải pháp cho
những vấn đề mà học sinh chia sẻ, phản hồi với
sư thừa nhận và thông cảm. Thay vì trấn an học
sinh với những lời khen ngợi, thể hiện bạn chia
sẻ với những trải nghiệm của các em như thế
nào hoặc bạn đã học được những gì từ các em.
Khi học sinh của chúng ta những tiếp cận
không đồng đều với công nghệ học tập từ xa, viết
thư cho phép chúng ta tăng cường sự công bằng
trong tầm ảnh hưởng của mình. Chúng ta có thể
cho các em một khoảng trong gian an toàn để
các em phản ánh, phàn nàn, không đồng ý, thể
hiện sự sợ hãi, đặt những câu hỏi khó nghe
những câu chuyện của chúng ta. Chúng ta có thể
luyện tập đó cùng học sinh như một người
trưởng thành được các em tin tưởng, một mối
quan hệ thể phát triển quá trình học tập ng-
hiêm túc.
33
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 30 - 2020
1 Rolin Moe | Jasmine dịch
Trong những tháng gần đây, các soạn giả, các
học khu và các nhà luận lớn đã khuyến khích
việc coi thất bại như một kinh nghiệm giá
trị cho người trẻ, đặc biệt là với học sinh. Tiền đề
của tranh luận này thể giá trị, bằng
chứng cho thấy rằng học sinh có thể làm tốt nhất
khi các em không gian để vật lộn đấu tranh
với thử thách sai lầm, học tập dựa trên thiết
kế hoặc vấn đề. Những cách tiếp cận theo hướng
nghiên cứu này đã có lịch sử thành công lâu dài
trong tác động thực tiễn giáo dục.
Nhưng nếu đó là một trường hợp, tại sao chúng
ta lại đang sử dụng nhiều lần từ “thất bại” trong
bài thuyết trình xã hội và trong giáo dục? Việc sử
dụng một từ mang nghĩa tiêu cực như từ “thất
1 Nguồn: https://www.kqed.org/mindshift/35852/
instead-of-framing-failure-as-a-positive-why-not-just-use-
positive-words
bại” để chỉ ra điểm tích cực gì đối với học sinh và
các trường học?
“Thất bại” trong giáo dục nói riêng trong xã
hội chung một từ tiêu cực. Thất bại nghĩa
kết thúc không đạt được các tiêu chuẩn
hay mục tiêu với một nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong
hội chung, đó là sự lưỡng phân giữa thành
công và thất bại. Còn trong giáo dục, đó một
phạm vi. Không đạt được những mong đợi trong
kinh doanh (có lẽ ngoại trừ trong mô hình công
nghiệp công nghệ “thất bại nhanh”) có thể được
cho thất bại từ đó lại tiếp tục cố gắng lại,
nhưng trong giáo dục, sự nỗ lực không phải
thất bại nhưng khoảng cách giữa thành công
rực rỡ và thất bại, cái mà đạt được nhờ thực hiện
lại trong tinh thần nỗ lực. Thất bại là tiền đề để
đánh giá giáo dục, chữ cái F là một nhân tố quan
trong trong bảng chữ cái bắt đầu từ chữ cái A.
Nhà Tâm lí giáo dục Ale Kohn gây ra một số
Thay vì coi “thất bại” như là một điều tích cực, Thay vì coi “thất bại” như là một điều tích cực,
tại sao không sử dụng những từ tích cực?tại sao không sử dụng những từ tích cực?
34 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 30 - 2020
Cải tổ giáo dục
tranh cãi mạnh mẽ về đặc tính của thất bại trong
một bài báo cáo gần đây trên tờ The Atlantic.
Kohn vừa đặt câu hỏi liệu trường học hội
đang làm giảm đi sự thoải mái của học sinh, liệu
thất bại có mang lại lợi ích về mặt tâm lí hay chỉ
đơn giản một từ. Theo Kohn, điều liên quan
nhất đến thành công là những trải nghiệm trước
đó với thành công, chứ không phải là với thất bại.
Mặc những ngoại lệ nhưng hậu quả chắc
chắn nhất của thất bại một đứa trẻ sẽ nhìn
nhận bản thân như là một người thiếu năng lực.
Và kết quả của niềm tin này là có khuynh hướng
thất bại nhiều hơn.
“Khi giáo viên tự vấn về những giả định của bản
thân với nỗ lực của học sinh, giáo viên sẽ bắt
đầu xem xét lại cách mình trò chuyện với học
sinh.”
Điều này cho thấy sự trái ngược giữa các phương
pháp sư phạm nhằm khuyến khích sự khám phá
và thử nghiệm của trẻ nhỏ, và rằng thất bại là tốt.
Thay cố gắng coi thất bại như một điểm tích
cực, việc tập trung tìm hiểu những phương pháp
trong khi bỏ đi những biểu tượng của sự tiêu cực
thể đạt được mục tiêu như những những
người ủng hộ sự thất bại, nhưng những lợi ích sẽ
tuyệt vời hơn.
Tầm quan trọng của việc phương pháp khám phá
cách tiếp cận mang tính tích cực trong môi
trường giáo dục một đồng minh quan trọng
đầy sức mạnh: học giả giáo dục, nhà luận
học Phần Lan: Yrjo Engestrom. Năm 1998, Yrjo
Engestrom làm việc với một ngôi trường trung
học tại một khu vực có mức thu nhập thấp để
giúp các cán bộ giáo dục xem lại về những cố
gắng của họ trong việc tạo ra các cơ chế cụ thể
cho sự thay đổi để đáp ứng được nhu cầu của tất
cả học sinh của họ thông qua một nghiên cứu
được thiết kế và tiến hành bởi phòng thí nghiệm
sự thay đổi [Change Laboratory] của trường đại
học Helsinki.
Engestrom và đồng nghiệp của mình đã điều
phối các phiên thảo luận cho đội ngũ nhân viên
giảng viên của trường với mục tiêu mang lại
không gian cho những cuộc trao đổi mang tính
xây dựng về các hoạt động giảng dạy hàng ngày
hướng tới các cơ chế cụ thể. Quan điểm của các
giáo viên về các yếu tố cấu thành nên một kết
quả giáo dục tưởng khác với công việc giảng
dạy thực tiễn hằng ngày của họ, vì vậy họ bắt tay
vào thực hiện một dự án cuối cùng mà học sinh
sẽ tạo ra sản phẩm cụ thể thể hiện việc học tập
của mình. Dự án đã mang lại trải nghiệm cao
nhất và cho phép giáo viên ghi chép lại quá trình
học tập.
Tuy nhiên, hành trình học tập không chỉ dành
riêng cho học sinh. Theo như các phiên thảo
luận Engestrom ghi nhận, giáo viên bị cuốn vào
vòng miêu tả học sinh ở những phương diện tiêu
cực: Một vài học sinh sẽ lười biếng và hờ hững sẽ
hoàn thành dự án như thế nào khi các em không
bao giờ quan tâm đến trường học? Engestrom
lưu ý trong một nghiên cứu rằng cuộc thảo luận
là một ví dụ về một “mâu thuẫn ngầm” rằng học
sinh thì lười biếng, ngoại trừ khi học sinh thực
hiện dự án trong nhà trường. Những mẫu thuẫn
như vậy, theo Engestrom không thể sửa chữa
được bằng cách cô lập và tóm tắt vấn đề cho
phân tích và dữ liệu, nhưng có thể xử lý được với
một quá trình được gọi là: học tập mở rộng bao
gồm đặt câu hỏi giả định, mô hình hóa các hành
vi và thử nghiệm với các mô hình khác nhau. Về
bản chất, các cuộc thảo luận bàn tròn giữa các
giáo viên cũng như một dụ về học tập mở
rộng như dự án cuối cùng cho học sinh, giáo viên
buộc phải vật lộn với sự mâu thuẫn ngầm về cách
thức giống như là học sinh vật lộn với dự án cuối
cùng của các em.
Khi giáo viên tự vấn về những giả định của bản
thân với nỗ lực của học sinh, giáo viên sẽ bắt đầu
xem xét lại cách mình trò chuyện với học sinh.
Khi không chỉ ra điểm ngôn ngữ theo cách đặc
35
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 30 - 2020
Cải tổ giáo dục
biệt, giáo viên bắt đầu sử dụng ngôn ngữ tích cực
để nói đến sự nỗ lực và khả năng của học sinh.
Trong các thảo luận bàn tròn, lượng ngôn ngữ
tích cực được sử dụng để miêu tả học sinh tăng
lên tám phần.
Cuộc nói chuyện tiêu cực vẫn còn tồn tại trong
các cuộc thảo luận nhưng cuộc thảo luận tích
cực đã mở rộng và làm giàu thêm ngôn ngữ của
giáo viên. Các trải nghiệm đã không bị cô lập
khỏi các thảo luận bàn tròn hay dự án cuối cùng,
điều xảy ra là sự chuyển đổi văn hóa trong trường
học nơi mà những thừa nhận và mâu thuẫn được
thử thách và đạt được sự tương tác tích cực.
Công việc của Engestrom ở đây một số nơi
khác nhấn mạnh một cá nhân không thể tách
biệt thay đổi trong ngôn ngữ từ phần còn lại của
dự án. Tất cả tồn tại như một cộng đồng và như
một sự kiện học tập theo thời gian và không gian.
Nhưng tầm quan trọng của việc xã hội nhận thức
như thế nào đối với học tập một minh chứng
cho thấy sự phát triển tiềm năng và việc học của
học sinh. Học sinh không được nuông chiều trong
dự án trên, hơn thế, học sinh đã bị thử thách
đẩy lên mức độ cao hơn chương trình giảng dạy
bắt buộc. Sự pha trộn các bài tập xác thực, thiết
lập những bước đệm gợi ý [scaffolding] và thái độ
tích cực sẽ tạo nên sự thành công.
Sự trộn lẫn giữa thực hành mở rộng thái độ
tích cực này là không phải là chưa từng có, Paula
Denton từ Quỹ Đông Bắc cho Trẻ em, tác giả của
cuốn sách “Sức mạnh trong ngôn từ của chúng
ta”, ủng hộ tầm quan trọng của việc sử dụng
ngôn ngữ tích cực trong lớp học, nhấn mạnh
rằng việc sử dụng và ứng dụng ngôn ngữ tích
cực của chúng ta cần được duy trì sự nhất quán
với việc chúng ta sử dụng nó trong hay ngoài lớp
học, vì vậy sự thay đổi là minh chứng trong suốt
quá trình tồn tại của chúng ta, không tách biệt
cũng không trừu tượng. Theo Denton, ngôn
ngữ ý nghĩa với hội của chúng ta cách
thức chúng ta cấu thành ngôn ngữ thể củng
cố hơn là làm tối nghĩa. Sách của Denton ủng hộ
giáo viên hiểu điều mình nói lấy ý nghĩa làm
điều quan trọng cốt yếu và không có sự mập mờ.
Từ nhận thức này, tại sao chúng ta sử dụng “thất
bại” để chỉ điều tích cực trong khi thất bại vốn
mang ý nghĩa tiêu cực?
Thảo luận về sự thất bại hầu như một cuộc
thảo luận về thử thách, về việc tạo dựng bước
đệm, về việc cung cấp một điểm câu trả lời
đúng không có được ngay từ lần đầu tiên,
không nên phụ thuộc vào môn học hay dự án
nào, nhưng là nơi học sinh có thể học tập từ sai
lầm của mình tiến lên phía trước. Tuy nhiên,
như Engestrom Denton chỉ ra trong nghiên
cứu của họ, cách thức chúng ta tham gia cần tích
cực thay vì tiêu cực, cần phải đo đếm được hơn
vô hình, và dựa trên quan điểm của sự mài giũa.
Theo như lưu ý của giáo viên K-12 lâu năm_Joe
Bower, tranh luận về sự bền bỉ là những tranh cãi
đổ lỗi cho các nhân tố bên ngoài, hơn là tập trung
vào những thử thách bên trong, những thử thách
mang tính xã hội, hay những thử thách thuộc về
cấu trúc [xã hội?]. Tập trung trở lại vào việc tạo
ra môi trường khám phá và tương tác tích cực
thể tạo ra các hội giống nhau cho học sinh,
điều những người ủng hộ sự thất bại mong
muốn nhìn thấy, nhưng không hề ý nghĩa
kết quả tiêu cực.
Rolin Moe nhà giáo dục, nhà nghiên cứu, diễn giả,
nhà văn, cố vấn và một nhà hướng dẫn.
36 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 30 - 2020
Cải tổ giáo dục
Việt Anh
Phát triển bởi: Tổ chức phi lợi nhuận Turnaround
for Children1 [Bước ngoặt cho trẻ em]
Mục đích: Building Blocks for Learning một
khung toàn diện cho sự phát triển của học sinh,
giúp học sinh phát triển và đạt được những thành
tích học tập những trường học nhiều khó
khăn. Khung tập trung vào những kỹ năng và mô
thức tư duy nội tâm hoặc hướng ngoại mà trẻ em
cần có để đạt được những thành công trong nhà
trường, hay thậm chí vươn xa hơn.
Độ tuổi: K-12
Áp dụng: Trong 16 năm qua, Turnaround for
Children đã hợp tác với hơn 100 trường học để
cung cấp cho các nhà giáo dục kiến thức và công
cụ giúp học sinh thành công.
1 Xem thêm tại website: https://turnaroundusa.org/
[30+ FRAME-[30+ FRAME-
WORKS GIÁO WORKS GIÁO
DỤC] - KỲ 13: DỤC] - KỲ 13:
BUILDING BUILDING
BLOCKS FOR BLOCKS FOR
LEARNINGLEARNING
37
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 30 - 2020
Cải tổ giáo dục
Bối cảnh:
Lưu ý rằng chủng tộc, giới tính hay các
khía cạnh khác của cá nhân có ảnh hưởng
tới nhận thức tích cực/tiêu cực về các kỹ
năng hoặc các mô thức tư duy.
Kêu gọi nhiều nghiên cứu xoay quanh mối
quan hệ giữa độ tuổi, giới tính và chủng tộc
tới việc đắc thụ, vận dụng và nhận thức về
các kỹ năng cũng như các mô thức tư duy.
Thảo luận về sự quan trọng của các bối
cảnh xã hội cũng như tác động của những
mối quan hệ tới sự phát triển của trẻ.
Kêu gọi nhiều nghiên cứu về cách thức
giảng dạy các kỹ năng, mô thức tư duy
trong nhà trường, sau giờ học những
chương trình giáo dục thay thế.
Quan điểm phát triển:
Sắp xếp các kỹ năng theo hệ thống phân
tầng phát triển dựa trên nghiên cứu: các
khối hộp ở đáy của hình chóp là các kỹ
năng nền móng, hỗ trợ những kỹ năng
vị trí cao hơn của hình chóp.
Bao gồm một số thông tin, theo đó, một
số kỹ năng cần phải được xây dựng ngay
từ những năm tháng đầu đời, nhưng lại
không cung cấp thông tin nhất quán về
độ tuổi xây dựng nhất định cho tất cả các
khối.
Lưu ý rằng những bằng chứng mạnh
mẽ chỉ ra rằng các kỹ năng tấc động lớn
tới thành tích học tập.
Tài nguyên sẵn có:
Cung cấp video truyền tải thông tin về
khung.
Cung cấp các video bổ sung về sự phát
triển não bộ và về khoa học nghịch cảnh.
Công cụ đo:
Thảo luận về những vấn đề với loại tự báo
cáo thường được sử dụng để đo lường kỹ
năng, đồng thời kêu gọi thêm những biện
pháp đánh giá dựa vào hành vi.
Tài liệu tham khảo:
- Stafford-Brizard, K. B. (2016). Building blocks
for learning: A framework for comprehensive
student development. Retrieved from: http://
www.turnaroundusa.org/wp-content/up-
loads/2016/03/Turnaround-for-Children-Build-
ing-Blocks-for-Learningx-2.pdf
#EdLab
#moingay1frameworkGiaoduc #LearnToLearn
#CultivatingEducationalPractices
Building
Blocks for
Learning
38 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 30 - 2020
Cải tổ giáo dục
TỔNG KẾT DẠY & HỌC
Một năm 2020 với những biến động không tưởng đang chuẩn bị khép lại. BBT Lộn Xộn lại thêm một
năm nữa đồng hành cùng với các quý thầy/cô, quý bạn đọc. Vì là một năm thật dài cùng muôn vàn
khó khăn và trở ngại, nên cũng là một năm mà chúng ta học được muôn vàn bài học và trải nghiệm
mới lạ.
Đi qua 12 số nội san, quý bạn đọc đã cùng chúng tôi bước chân qua 129 bài viết. Trong đó, chúng ta
đã học cách học trong 27 bài chuyên mục Học thế nào, nâng cao chuyên môn giảng dạy trong 47 bài
chuyên mục Dạy thế nào, cùng nhìn nhận lại các vấn đề giáo dục trong 8 bài viết của chuyên mục Góc
nhìn để cùng nhau đổi mới trong 26 bài Cải tổ giáo dục. Đặc biệt, trong năm vừa rồi, BBT Lộn Xộn đã
hân hạnh nhận được 4 bài viết cho chuyên mục Từ thực địa, tức 4 bài học quý giá mà các thầy/cô tự
đúc kết từ những trải nghiệm của mình.
Sự kiện lớn nhất bao trùm cả năm vừa rồi là dịch bệnh COVID-19. BBT Lộn Xộn đã cố gắng góp một
phần bé nhỏ để hỗ trợ quý thầy/cô đương đầu thông qua 9 bài viết về dạy học trực tuyến cùng 5 bài
viết cung cấp các góc nhìn liên quan. Một chủ đề liên tục được nhắc lại trong các số Dạy&Học 2020
là thúc đẩy sự tự chủ, với hơn 10 bài viết về cách thức để tạo động lực nội sinh, kỹ năng tự điều hướng
hay tư duy nghiên cứu ở học sinh. Trong năm này, chúng tôi cũng bắt đầu giới thiệu tới quý bạn đọc
mỗi tháng một framework giáo dục.
Giống như tựa đề của Dạy & Học số 30, 2020 là một năm tuy khó khăn nhưng là một cơ hội để ta thêm
gắn kết. 2021 sắp tới, liệu ta có thể tìm ra lời giải cho những biến cố của 2020, những cơ hội mới nào
đang chờ đợi chúng ta ở năm mới, còn những chuyển biến to lớn nào đang sắp diễn ra? BBT Lộn Xộn
cũng không thể đưa ra bất kỳ dự đoán nào. Trong một thế giới đầy bất định, thứ duy nhất chúng tôi
có thể tự tin nói với quý bạn đọc là chúng tôi vẫn sẽ ở đây, tiếp tục đồng hành cùng quý bạn đọc trong
hành trình gian truân nhưng cũng đầy lý thú này.
Trân trọng,
Ban Biên tập Lộn Xộn
2020
39
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 30 - 2020
Cải tổ giáo dục
Ban Biên tập Lộn xộn
Hoàng Anh Đức
Dương Phú Việt Anh
Nguyễn Linh Chi
Nguyễn Tiến Đạt | Công ty CP PTGD POMATH
Vũ Đức Hà | The Lyceum
Phùng Thị Ngọc Lan | Hogwart
Lăng Thị Anh | THCS Vĩnh Yên
Trần Thị Thu Giang | Teach For Viet Nam
Đoàn Phương Thục | EdLab Asia
Hàn Quốc Việt | EdLab Asia
Khuất Thị Tuấn | Trường PTLC Olympia Hà Nội
Logo | Hà Dũng Hiệp
Chế bản | Quách Anh
Liên hệ: bientap@day-hoc.org
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Số 30 | tháng 12 - 2020
Ban Biên tập Lộn xộn
Học để Dạy,
và Dạy để Học
ResearchGate has not been able to resolve any citations for this publication.
ResearchGate has not been able to resolve any references for this publication.