PreprintPDF Available
Preprints and early-stage research may not have been peer reviewed yet.

Abstract

Vạn vật trong tự nhiên vẫn luôn vận hành theo một vòng quay, như mặt trời phải lặn và mặt trăng phải mọc, như mùa hạ đi để mùa thu tới, như chiếc hạt rơi cho một sự sống sắp nảy chồi. Sau một mùa hè muộn lặng lẽ thì mọi ngôi trường khắp cả nước giờ đây đã nhộn nhịp đi vào guồng quay vốn có. Dạy&Học cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đội ngũ Ban biên tập Thế hệ thứ Hai vừa tiếp nhận những thành quả của BBT Thế hệ thứ Nhất_những người mở đường tận tụy đã gắn bó với tập san hơn 2 năm qua. Dạy&Học hôm nay lại tiếp tục cuộc hành trình với những người bạn mới. Vol 27 là một “khởi đầu” đối với đội ngũ ban biên tập Gen-2, một khởi đầu hân hoan mong được chia sẻ chút thông tin, kiến thức nhỏ nhoi tới mọi người. Dạy&Học sẽ vẫn chạy tiếp vòng quay này. Cảm ơn bạn đọc đã ủng hộ và khích lệ ban biên tập bấy lâu nay. Dạy&Học hy vọng sẽ vẫn nhận được sự chào đón của quý vị trong thời gian tới. Trước hết, xin kính mời quý độc giả cùng dạo chơi một chuyến vào trong thế giới sinh vật học. Dạo chơi bằng cách nào? Bài “Chơi với sinh vật học” giới thiệu một công nghệ mới, cho phép người học được khám phá, nhập vai và đắm chìm vào thế giới của những tế bào thực vật; phá bỏ đi hàng rào ngăn cách giữa ngôn ngữ và thực tế. Một chuyến dạo chơi nữa, có lẽ sẽ khiến bạn nghĩ tới bộ phim “Ant-Man”, thế giới của những vật chất nhỏ xíu. Bài “Khoa học Nano” gợi ra những ý tưởng để đưa ngành khoa học nhỏ bé nhưng đầy lợi ích vào trong lớp học. Nếu đã đọc hai bài này, xin quý vị đừng bỏ qua ý tưởng “… kết hợp hoạt động STEM với lịch sử phát triển khoa học” vì đây là một cách tiếp cận phù hợp giúp thúc đẩy tư duy, khiến học sinh biết hoài nghi và đặt ra câu hỏi về thế giới quanh mình. Bàn về việc Dạy thế nào?, Dạy và Học kỳ này có đề cập tới mô thức “...dạy học đảo ngược” với nhiều ví dụ đa dạng, có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy. Tất nhiên, để làm một điều mới thì phải đối mặt với nhiều khó khăn, chưa kể việc quản lý một lớp học vốn đã là chuyện đầy thử thách. Nếu bạn cảm thấy cần một giải pháp để bình tâm, tĩnh tại, Vol 27 có “Chánh niệm có thể giúp giáo viên và học sinh làm chủ được những tình huống đầy thử thách như thế nào”. Còn nếu bạn đang có nhiều khó khăn trong dạy học trực tuyến, thì bạn có thể tham khảo “8 chiến lược nhằm cải thiện sự tham gia trong lớp học trực tuyến”. Ngoài ra, chuyên mục Cải tổ giáo dục kỳ này có bàn tới những “Lợi ích lâu dài của giáo dục mầm non”. Bài viết chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu về các phương pháp giáo dục khi trẻ còn nhỏ tác động thế nào tới trẻ khi trẻ học lên cao. Và cuối cùng là một Góc nhìn về câu chuyện giáo dục “cho trẻ đa ngôn ngữ”, xoay quanh vấn đề xây dựng một môi trường học tập an toàn và đảm bảo sự phát triển phù hợp cho những đứa trẻ được sinh trong môi trường ngôn ngữ đa dạng.
KHỞI ĐẦU
Số 27 - tháng 09 | 2020
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
LỢI ÍCH LÂU DÀI
CỦA GIÁO DỤC MẦM
NON
HÌNH THÀNH TƯ DUY PHÊ PHÁN
BẰNG CÁCH KẾT HỢP HOẠT ĐỘNG
STEM VỚI LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC
CHÁNH NIỆM CÓ THỂ GIÚP GIÁO
VIÊN VÀ HỌC SINH LÀM CHỦ
ĐƯỢC NHỮNG TÌNH HUỐNG ĐẦY
THỬ THÁCH NHƯ THẾ NÀO?
CHUYỂN SANG DẠY
HỌC ĐẢO NGƯỢC
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgNội san Dạy học | Day-hoc.org
Số 27: Khởi Đầu
Học thế nào?
CHƠI VỚI SINH VẬT HỌC ...................................................06
Phạm Mai Hằng dịch
Dạy thế nào?
HÌNH THÀNH TƯ DUY PHÊ PHÁN CHO HỌC SINH BẰNG
CÁCH KẾT HỢP HOẠT ĐỘNG STEM VỚI LỊCH SỬ PHÁT
TRIỂN KHOA HỌC ..............................................................08
Nguyễn Tiến Đạt dịch
KHOA HỌC NANO ..............................................................12
Chương Nguyễn dịch
CHÁNH NIỆM CÓ THỂ GIÚP GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH LÀM
CHỦ ĐƯỢC NHỮNG TÌNH HUỐNG ĐẦY THỬ THÁCH NHƯ
THẾ NÀO ............................................................................16
Cẩm Khương dịch
CHUYỂN SANG DẠY HỌC ĐẢO NGƯỢC ............................24
Ngô Trọng Đại dịch
GIỮ CHO VIỆC GIÁO DỤC VỀ NGUỒN NƯỚC LUÔN TƯƠI
MỚI .....................................................................................30
Thu Uyên dịch
8 CHIẾN LƯỢC NHẰM CẢI THIỆN SỰ THAM GIA TRONG
LỚP HỌC TRỰC TUYẾN .....................................................35
Ngọc Lan dịch
02 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 27 - 2020
Cải tổ giáo dục
LỢI ÍCH LÂU DÀI CỦA GIÁO DỤC MẦM NON ....................39
Hà Thanh Mai dịch
[30+ FRAMEWORKS GIÁO DỤC] - KỲ 10 - KHUNG MESH VỀ TƯ
DUY, CÁC KỸ NĂNG VÀ THÓI QUEN THIẾT YẾU ...............41
Việt Anh
Góc Nhìn
GIÁO DỤC ĐẦU ĐỜI CHO TRẺ ĐA NGÔN NGỮ ..................43
Ayden Lê dịch
03
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 27 - 2020
Thể lệ gửi bài:
Quý thầy cô, anh chị nội dung liên quan tới Dạy
Học muốn chia sẻ tới cộng đồng, xin vui lòng gửi về Ban
Biên tập Lộn xộn qua email bientap@day-hoc.org
Cuối bài viết, tác giả xin vui lòng giới thiệu vài nét về bản
thân: Họ tên, nơi công tác, địa chỉ liên lạc, số điện thoại,
các chủ đề nghiên cứu yêu thích…
Do thời gian và nhân sự có hạn, Ban Biên tập xin phép
chỉ liên hệ với các bài viết được chọn đăng.
Tinh thần 4.0
Ban Biên tập quý thầy cô, anh chị gửi bài cộng tác
đều chia sẻ tinh thần 4.0, tức là:
- 0 lương
- 0 văn phòng
- 0 chuyên môn cao
- 0 giới hạn không gian - thời gian
Địa chỉ gửi bài:
Bientap@day-hoc.org
Chia sẻ:
Quý thầy cô, anh chị cảm thấy nội dung Dạy và Học có
ích, xin vui lòng chia sẻ tới bất kỳ những ai quan tâm,
kèm theo trích dẫn nguyên vẹn và đầy đủ về nguồn gốc
bài viết.
Mọi người nói về Dạy & Học
“Dạy & Học là ấn phẩm không thể thiếu đối
với các nhà trường phổ thông”
- TS Phạm Hiệp, Chuyên gia Giáo dục
04 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 27 - 2020
Lời tựa
Quý độc giả thân mến,
Vạn vật trong tự nhiên vẫn luôn vận hành theo một vòng quay, như mặt trời phải lặn và mặt trăng
phải mọc, như mùa hạ đi để mùa thu tới, như chiếc hạt rơi cho một sự sống sắp nảy chồi. Sau một
mùa hè muộn lặng lẽ thì mọi ngôi trường khắp cả nước giờ đây đã nhộn nhịp đi vào guồng quay vốn
có. Dạy&Học cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đội ngũ Ban biên tập Thế hệ thứ Hai vừa tiếp nhận
những thành quả của BBT Thế hệ thứ Nhất_những người mở đường tận tụy đã gắn bó với tập san
hơn 2 năm qua. Dạy&Học hôm nay lại tiếp tục cuộc hành trình với những người bạn mới. Vol 27
một “khởi đầu” đối với đội ngũ ban biên tập Gen-2, một khởi đầu hân hoan mong được chia sẻ chút
thông tin, kiến thức nhỏ nhoi tới mọi người. Dạy&Học sẽ vẫn chạy tiếp vòng quay này. Cảm ơn bạn
đọc đã ủng hộ và khích lệ ban biên tập bấy lâu nay. Dạy&Học hy vọng sẽ vẫn nhận được sự chào đón
của quý vị trong thời gian tới.
Trước hết, xin kính mời quý độc giả cùng dạo chơi một chuyến vào trong thế giới sinh vật học. Dạo
chơi bằng cách nào? Bài “Chơi với sinh vật học” giới thiệu một công nghệ mới, cho phép người học
được khám phá, nhập vai đắm chìm vào thế giới của những tế bào thực vật; phá bỏ đi hàng rào
ngăn cách giữa ngôn ngữ và thực tế. Một chuyến dạo chơi nữa, có lẽ sẽ khiến bạn nghĩ tới bộ phim
Ant-Man”, thế giới của những hạt vật chất nhỏ xíu. Bài “Khoa học Nano” gợi ra những ý tưởng để đưa
ngành khoa học nhỏ nhưng đầy lợi ích vào trong lớp học. Nếu đã đọc hai bài này, xin quý vị đừng bỏ
qua ý tưởng … kết hợp hoạt động STEM với lịch sử phát triển khoa học” vì đây là một cách tiếp cận
phù hợp giúp thúc đẩy tư duy, khiến học sinh biết hoài nghi và đặt ra câu hỏi về thế giới quanh mình.
Bàn về việc Dạy thế nào?, Dạy và Học kỳ này đề cập tới mô thức ...dạy học đảo ngược” với nhiều ví
dụ đa dạng, có thể áp dụng vào thực tế giảng dạy. Tất nhiên, để làm một điều mới thì phải đối mặt với
nhiều khó khăn, chưa kể việc quản lý một lớp học vốn đã là chuyện đầy thử thách. Nếu bạn cảm thấy
cần một giải pháp để bình tâm, tĩnh tại, Vol 27 có “Chánh niệm có thể giúp giáo viên và học sinh làm
chủ được những tình huống đầy thử thách như thế nào”. Còn nếu bạn đang có nhiều khó khăn trong
dạy học trực tuyến, thì bạn có thể tham khảo “8 chiến lược nhằm cải thiện sự tham gia trong lớp
học trực tuyến”. Ngoài ra, chuyên mục Cải tổ giáo dục kỳ này có bàn tới những “Lợi ích lâu dài của
giáo dục mầm non”. Bài viết chỉ ra những khoảng trống trong nghiên cứu về các phương pháp giáo
dục khi trẻ còn nhỏ tác động thế nào tới trẻ khi trẻ học lên cao. Và cuối cùng là một Góc nhìn về câu
chuyện giáo dục “cho trẻ đa ngôn ngữ”, xoay quanh vấn đề xây dựng một môi trường học tập an toàn
và đảm bảo sự phát triển phù hợp cho những đứa trẻ được sinh trong môi trường ngôn ngữ đa dạng.
Xin chúc Quý vị có những khoảng thời gian thú vị.
Trân trọng,
Ban Biên tập Lộn Xộn
05
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 27 - 2020
1Lisa Tran/Phạm Mai Hằng dịch
Bill Ney đã nói: “Science Rules(Khoa học thật
tuyệt!)2, và đó chính là lý do cho sự ra đời của Ge-
nomics Digital Lab (GDL)_một trò chơi tương tác
trực tuyến dạy học sinh về bản chất tế bào sinh
học trụ sở tại Canada. Chương trình truyền
hình của Bill Nye vẫn được nhớ đến ngày hôm
nay bởi cung cấp nhiều lý thuyết và khái
1 Nguồn: https://teachmag.com/archives/1123
2 Bill Nye tên thật là William Sanford Nye
(sinh ngày 27/11/1955). Ông là một nhà khoa học,
kỹ sư, MC người Mỹ. Ông nổi tiếng với chương trình
khoa học cho trẻ em: “Bill Nye the Science Guy”
được phát sóng từ 1993-1998. Trong chương trình
này, cụm từ “Science Rules” được Nye nhắc đi
nhắc lại rất nhiều lần. Trong tiếng Anh, “rules” có
nghĩa là “quy tắc”, “nguyên tắc”, nhưng đồng thời
nó cũng có nghĩa là “tuyệt vời”, “tuyệt nhất”.
niệm khoa học dưới hình thức thật đáng nhớ
vui vẻ. Thời của Bill Nye đã qua lâu, nhưng nhu
cầu về một nền tảng giảng dạy khoa học mang
tính giáo dục thú vị vẫn tồn tại, đặc biệt bởi
học sinh thường phàn nàn rằng họ không thể thấy
mối quan hệ giữa các hoạt động của trường với
cuộc sống thực tế- theo Mark Oehlert, Trưởng
khoa Trò chơi phỏng của Trường đại học
Quốc phòng, phát biểu vào năm 2007.
Với sự phát triển của phần mềm đồ họa máy
tính và công nghệ trò chơi, giờ đây việc tái tạo và
mô phỏng nhiều lý thuyết hay mô hình khoa học
thậm chí còn dễ dàng hơn. Nhưng có vẻ như công
nghệ này được đầu tư rất hạn chế cho các sáng
kiến về trò chơi giáo dục. Nhiều trò chơi trên thị
trường hiện nay được bán dưới vỏ bọc “giáo dục”,
Chơi với Sinh vật học
06 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 27 - 2020
nhưng tất cả đều chỉ các trò chơi kèm theo
nhiều vòng câu đố trắc nghiệm.
GDL không giống như bất kỳ trò chơi giáo dục nào
như vậy. thực sự thu hẹp khoảng cách giữa
chơi học. Khi bạn dạy môn Sinh học, bạn
đang kể một câu chuyện. GDL là một chuỗi các
trò chơi được xây dựng xoay quanh câu chuyện về
năng lượng - cách thực vật khai thác nó từ mặt
trời, cách các tế bào sử dụng năng lượng đó
cách con người sử dụng năng lượng đó từ thực
vật để làm thức ăn hay nhiên liệu. đã nhận
được nhiều lời tán dương bao gồm Giải thưởng
Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc trong
hạng mục khoa học công nghệ điện tử. GDL
chứa 8 loại trò chơi độc đáo khác nhau thể
chơi bằng tiếng Pháp hoặc tiếng Anh.
Sinh vật học thường là một chủ đề khó nắm bắt
bởi vì nó rất giống một khái niệm ba chiều mà chỉ
được truyền tải hai chiều trong sách giáo khoa.
Hình ảnh vượt quá khả năng mô tả của ngôn ngữ.
GDL sử dụng đồ họa hình ảnh động để giúp
phá vỡ các rào cản xung quanh những khái niệm
trừu tượng như: quang hợp, sao chép DNA
hình thành protein.
GDL sử dụng cách tiếp cận dựa trên khám phá,
nhập vai. Ví dụ, học sinh có thể chơi một “trò
chơi sinh vật học” điều khiển các điều kiện
xung quanh một thực vật đang sắp chết. Các
em có được cảm giác thực sự về những gì sẽ xảy
ra trong những tế bào bằng cách sử dụng các
kỹ năng duy và sự sáng tạo của mình thay
chỉ đọc một biểu đồ từ sách giáo khoa. GDL cho
phép học sinh quan sát, kiểm tra, thao tác và trải
nghiệm một số quá trình sinh học tự nhiên xảy
ra trong cuộc sống thực hàng ngày; các quá trình
mà các em không thể tự mình trải nghiệm hoặc
hiểu được từ sách giáo khoa.
Các trò chơi từng được phát triển cho học sinh
lớp 7 đến lớp 12 học môn Sinh học, dựa trên cơ
sở thử nghiệm và khắc phục lỗi. Độ khó tăng dần
theo từng cấp độ, giống như một trò chơi video.
Để dành chiến thắng, người chơi cần phải học và
để học họ cần thông tin thu được từ việc chơi trò
chơi.
Đối với giáo viên và các nhà giáo dục, GDL là một
phần bổ trợ hiệu quả cho lớp học. Giáo viên
thể đánh giá tiến bộ của học sinh vì nó được ghi
lại trực tuyến theo thời gian thực. Kết quả của
học sinh, thời lượng các em dành cho mỗi trò
chơi và ghi chú của các em ghi trong sổ ghi chép
trực tuyến đều có thể truy cập được.
Đối với học sinh, điểm lôi cuốn của GDL trong việc
sao chép DNA chắc chắn không khác gì trò chơi
Guitar Hero. Trò chơi này không chỉ hoạt động
với một cây Guitar Hero thực tế có cắm USB, mà
còn có cả âm nhạc của riêng người chơi. Trong
thế hệ trò chơi video ngày nay, những người tạo
ra GDL đã thực hiện mọi nỗ lực để làm cho sinh
vật học thật sự sống động. Khoa học là điều tuyệt
vời nhất!.
07
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 27 - 2020
Ainissa Ramirez | Nguyễn Tiến Đạt dịch
Lời tựa: Bằng cách yêu cầu học sinh khám phá về
lịch sử các phát kiến khoa học, chúng ta có thể kh-
iến các em biết hoài nghi, đặt ra nhiều thắc mắc
hơn khi nhìn nhận thế giới xung quanh mình, và tạo
điều kiện để các em suy nghĩ về nguyên nhân
tác động.
Hình thành tư duy
phê phán cho học
sinh bằng cách kết
hợp hoạt động STEM
với lịch sử phát triển
khoa học
Đối với nhiều giáo viên khoa học, mỗi buổi tối
trước tiết học của ngày hôm sau luôn chất chứa
ưu tư xuất phát từ mong muốn biến lớp học trở
nên hấp dẫn hơn. Tuy nhiên, những công cụ mà
họ sử dụng có thể không giống nhau.
Một vài giáo viên có đủ không gian sáng tạo
được trang bị những chiếc máy in 3D; vài người
thì không. Một số giáo viên nền tảng tri thức
khoa học vững chắc, còn số khác thì không. Một
vài trường có trang bị đầy đủ các bình thí nghiệm
và kính hiển vi hiện đại, nhưng nhiều nơi khác thì
không. Thông qua các hoạt động STEM, tất cả
học sinh đều hội để phát triển duy phê
phán. Nhưng việc phát triển loại hình tư duy trên
không đơn thuần đến từ một không gian sáng
tạo hoành tráng, một tấm bằng khoa học uy tín
hay nguồn tư liệu dồi dào.
Một trong những cách thức đột phá để khuyến
khích duy phê phán trong STEM đó thêm
vào đó một chút yếu tố của lịch sử. STEM được ra
đời từ mong muốn tái tạo phương thức vận hành
của cuộc sống bằng cách kết hợp bốn yếu tố
cốt lõi: Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán.
08 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Trong thực tiễn, những yếu tố trên thường kết
hợp với nhau một cách liền mạch và ít tạo được
sự chú ý nhất định.
Nếu muốn chuẩn bị cho những đứa trẻ trở thành
những nhà khoa học trong tương lai thì chúng ta
cần cho các em biết tường tận về quá khứ. Bằng
cách làm như vậy, chúng ta thể làm sáng tỏ
những tiến bộ của khoa học thông qua việc cho
học sinh hiểu những sự kiện lộn xộn đã thực sự
diễn ra trong lịch sử. Đồng thời, chúng ta chỉ cho
các em thấy khoa học đã thực sự được khám phá
như thế nào cũng hội để vinh danh các
nhà khoa học đã viết nên lịch sử của nhân loại,
dẫn dắt các em học sinh vào thế giới của khoa
học.
SỨC MẠNH CỦA NHỮNG CÂU CHUYỆN KHOA
HỌC
Một trong những cách để chia sẻ khoa học từ
điểm nhìn của lịch sử kể những câu chuyện
thật hay về chúng. Những câu chuyện đáng nhớ:
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng con người luôn
phản ứng một cách tự động với cách tiếp cận
trên, và tạo nền móng ban đầu cho những thông
tin - ví dụ, bằng cách trình bày những khám phá
khoa học dưới hình thức tường thuật một cách
thuyết phục - giúp não bộ kết hợp những khái
niệm mới. Bằng cách này, câu chuyện diễn ra
liền mạch như một hệ băng chuyền, giúp giờ học
trở nên thú vị qua đó truyền tải được những
thông tin quan trọng.
Không dừng lại đó, một câu chuyện hay cũng
có thể được sử dụng cho những mục đích khác.
Bằng cách nhìn nhận tác động của các phát minh
trong quá khứ đến cuộc sống trong hiện tại, học
sinh học được cách nhìn nhận vấn đề tổng thể.
Ví dụ, nếu các em được chỉ ra tác động của đồng
hồ đến cuộc sống hoặc cách máy tính thay đổi tư
duy của con người, thì các em có thể thấy được
công nghệ đã định hình văn hoá hoặc thậm chí
thay đổi cảm nhận của chúng ta về thời gian như
thế nào. Bằng cách này, STEM vượt xa những hạn
chế điển hình của tạo thành mối liên kết
trong suy nghĩ của học sinh - không những liên
quan đến những công nghệ khác còn tất cả
các khía cạnh và lĩnh vực của quá trình học hỏi.
KHÁM PHÁ NHỮNG HỆ QUẢ KHÔNG CHỦ ĐỊNH
CỦA NHỮNG PHÁT MINH
Trong hơn một thập kỷ qua, tôi đã tìm kiếm một
quyển sách thể cung cấp cả bối cảnh lịch sử
bối cảnh hội của những phát minh để kể
về các câu chuyện khoa học nhưng lại không
có nhiều may mắn lắm. Tôi cảm thấy tầm quan
trọng của cách tiếp cận bị bỏ sót này với việc nuôi
dưỡng những người duy phê phán, bởi lẽ
đó tôi quyết định viết cuốn The Alchemy of Us
(Thuật giả kim của chúng tôi), quyển sách hàm
chứa những phát minh và cách thức chúng thay
đổi cuộc sống hội. Trong quyển sách, những
cuộc sống của vô số nhà phát minh ít được biết
đến (từ mục sư Hannibal Goodwin1 đến người
nội trợ Bessie Littleton2) đều được tiết lộ,
rất nhiều cách để những phát minh thường ngày
thay đổi cuộc sống được làm sáng tỏ.
Thỉnh thoảng kết quả của những phát minh trên
được chú ý cũng nhiều trường hợp không
được chú ý đến. Ví dụ, học sinh có thể nhìn thấy
những bức điện báo được sử dụng điện để truyền
tải thông tin từ một khoảng cách vô cùng xa
trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, chúng
thể nhận thấy việc gửi những bức điện báo còn
tồn tại nhiều thiếu sót: Nó không thể chứa được
nhiều nội dung trong cùng một khoảng thời gian.
Khách hàng tại bưu cục được khuyến khích gửi
những tin nhắn ngắn gọn. Chẳng bao lâu, những
tờ báo được truyền tải bởi điện báo trong các tòa
soạn, và biên tập viên yêu cầu phóng viên đưa ra
những bài viết thật cô đọng. Việc sử dụng những
tuyên ngôn ngắn gọn đã trở thành phong cách
1 Hannibal Goodwin (1822 - 1900) là người phát minh
ra màng phim trong suốt được sử dụng trong máy ghi quay
phim đầu tiên của Thomas Edison.
2 Bessie Littleton (vợ của nhà vật lý Jesse Littleton)
đã đưa ra kiểm chứng thủy tinh có thể sử dụng trong lò
nướng.
09
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
báo chí của một phóng viên đã viết rất nhiều bài
báo nổi tiếng - tên là Ernest Hemingway.
dụ trên đã tả cách thức ra đời của công
nghệ, điện báo, một loại ngôn ngữ thay thế, dẫn
đến phương thức hành văn được sử dụng nhiều
nhất trên thế giới - những kết quả to lớn
không thể dự đoán trước được của bài học trên,
chúng ta thể đối chiếu được với cái cách
Twitter và tin nhắn thay thế ngôn ngữ ngày nay.
Khi lịch sử được tích hợp trong STEM, học sinh
không chỉ học về khoa học mà còn biết được
những tác động rộng rãi của khoa học đến cuộc
sống.
ĐỊNH HÌNH TƯƠNG LAI BẰNG QUÁ KHỨ: MỘT
BÀI TẬP
Một trong những cách có thể tạo dựng kỹ năng
duy phê phán chính là soi chiếu công nghệ ở cấp
độ vi mô. Hãy để học sinh suy nghĩ về các phát
minh, ví dụ như những chiếc điện thoại của các
em hoặc Instagram hoặc mạng Internet, và chú
ý đến cách thức chúng tác động một cách rộng
lớn đến cuộc sống. Học sinh thể tạo ra một
danh sách những thay đổi (yêu cầu các em không
chỉ nghĩ về những thay đổi về mặt vật chất
còn thay đổi về cả những ý tưởng, khái niệm trừu
tượng như tâm lý của con người hay hệ thống
niềm tin) chia học sinh thành các nhóm nhỏ để
thảo luận và chia sẻ những chúng thể tìm
thấy được. Thêm vào đó, bạn có thể đưa ra những
sự kiện phản thực tế: Yêu cầu học sinh tạo ra một
trục thời gian về lịch sử của một phát minh cùng
với một trục thời gian thứ hai giả tưởng rằng phát
minh đó chưa bao giờ xuất hiện. Điều gì sẽ xảy ra
nếu điện thoại đã chưa bao giờ được phát minh?
nhiên không câu trả lời đúng hoặc sai,
nhưng những nhiệm vụ sẽ khiến cho học sinh
quan sát thế giới một cách hoài nghi hơn - tràn
đầy những thắc mắc - và tạo điều kiện để các em
suy nghĩ đến những nguyên nhân và tác động.
Để nhìn nhận vấn đề một cách sâu sắc hơn: Hãy
bắt đầu bằng việc yêu cầu học sinh kiểm chứng
những tác động của internet đến cuộc sống hiện
đại. Mạng internet chắc chắn đã đem lại những
thay đổi to lớn đến cuộc sống. Trước hết, chúng
ta có thể nghe nhạc, xem video, truy cập thông
tin liên lạc với nhau một cách dễ dàng. Hãy
để học sinh bàn luận về cuộc sống trước
sau khi mạng internet theo nhóm sau đó
tạo ra bản vẽ hoặc viết lại một bài luận ngắn.
Chúng có thể trả lời những câu hỏi như sau: Con
người tìm kiếm thông tin như thế nào? Mọi người
nghe tin tức của nhau như thế nào? Mọi người
nghe nhạc như thế nào? Thông tin về những chủ
đề khác nhau được lưu trữ đâu trước khi
internet? Bước tiếp theo có thể tìm kiếm những
ưu và nhược điểm của internet, đặc biệt là mạng
hội. Liệu việc kết nối thông tin đang giúp đỡ
hay làm tổn thương chúng ta? Liệu mạng inter-
net đem chúng ta lại gần nhau hơn hay chia rẽ
chúng ta? Liệu mạng internet khiến chúng ta dễ
dàng hơn hay cản trở chúng ta trong việc tìm ra
sự thật?
Một khi học sinh đã được dẫn dắt để suy nghĩ
về công nghệ theo hướng này, bạn có thể yêu
cầu học sinh thử sức với vai trò của một nhà tiên
tri. Yêu cầu các em suy nghĩ đến những câu hỏi
tính gợi mở như: Nếu mạng hội dựa trên
những lượt thích (“likes”) lượt theo dõi (“fol-
lows”) thì hình thái xã hội trong tương lai sẽ diễn
ra như thế nào? Chúng ta nghe theo những người
nổi tiếng với vài triệu người theo dõi hay những
lời khuyên từ chuyên gia với ít lượt theo dõi hơn?
Liệu thông tin sai lệch bị phát tán một cách
dễ dàng? Học sinh có thể vẽ một bức tranh, viết
một bài luận ngắn hoặc tạo nên một video để
phản ánh những tác động của internet lên toàn
xã hội cuộc sống sẽ được hình dung như thế
nào trong tương lai nếu có hoặc không có những
giải pháp được đưa ra.
KẾT NỐI NHỮNG CÔNG DÂN TƯƠNG LAI
Trong khi các kĩ năng STEM ngày càng đóng vai
trò quan trọng trong thế giới công nghệ hiện đại,
10 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
STEM cũng được coi là con đường khuyến khích
học sinh trở thành người tư duy phê phán,
đồng thời trở thành một công dân tương lai.
Bằng cách đặt khoa học trong bối cảnh lịch sử
văn hóa rộng hơn, chúng ta có thể lưu ý học
sinh cách thức các phát minh khoa học trở thành
một phần trong quá trình tiến hóa của nền văn
minh và thậm chí hệ thống niềm tin về giá trị đạo
đức. Và bằng cách cho học sinh đủ không gian để
phê phán những phát minh, chúng ta cho chúng
những kỹ năng để định hình tương lai.
Tuy vậy, để những đứa trẻ đặt ra các câu hỏi mang
tính thách thức, thì chìa khóa của bước đầu tiên
đưa cho các em những câu chuyện khoa học
hấp dẫn. Một khi học sinh đã trở nên hứng thú với
cách thức STEM trở thành một phần mảnh ghép
của bức tranh tổng thể, các em sẽ có những kỹ
năng để nhìn thế giới rõ ràng hơn và sẽ có những
lăng kính cần thiết để bắt đầu đặt ra những câu
hỏi hóc búa. Cách tiếp cận này điểm tương
đồng với sự thông thái của William Shakespeare,
người mà một vài thập kỷ trước đã nói rằng, “Quá
khứ là lời mở đầu. Ông ấy đã hoàn toàn đúng, bởi
nếu chúng ta quan sát thật kỹ lưỡng, những câu
chuyện trong quá khứ cho chúng ta những chỉ
dẫn hay để tiến về phía trước.
11
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
12 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
By Lisa Tran
| Chương Nguyễn dịch
Thế giới đang bắt đầu cuộc hành trình xuyên suốt
Thời đại Nano. Việc giảng dạy công nghệ nano
cho học sinh, sinh viên mở ra con đường, dẫn các
em đến một thế giới nơi công nghệ nano đang trở
thành ngành khoa học thống trị.
Thế giới Nano, nghe có vẻ như chỉ tồn tại trong
trí tưởng tượng của những nhà văn khoa học viễn
tưởng. Đó một thế giới với các cửa sổ tự làm
sạch các vật liệu “cứng hơn kim cương”
“mạnh hơn thép với trọng lượng chỉ bằng một
phần nhỏ”. Nhưng thế giới này rất thực và người
dẫn dắt chuyến tham quan của chúng tôi là
Deb Newberry1, một nhà vật lý hạt nhân nhà
khoa học công nghệ nano tại Trường Cao đẳng
Kỹ thuật Dakota, Rosemount, Minnesota. Trong
cuốn sách đồng tác giả của Newberry, Điều lớn
lao tiếp theo thực sự nhỏ: Công nghệ nano sẽ
thay đổi tương lai doanh nghiệp của bạn như thế
nào, cô ấy mô tả công nghệ nano là nghệ thuật
và khoa học về thao tác sắp xếp lại các nguyên
tử và phân tử riêng lẻ để tạo ra các vật liệu, thiết bị
hữu ích và hệ thống.”
Công nghệ nano hay khoa học nano, được gọi
như vậy bởi các nguyên tử và phân tử rất nhỏ
- kích thước cỡ nanomet (nm) trong đó 1nm
bằng một phần tỷ mét (m). Để hiểu rõ hơn về
kích thước nano, chúng ta thể bắt đầu bằng
cách so sánh một sợi tóc người với các nguyên
tử vàng. Một sợi tóc người đường kính khoảng
1 Deb Newberry, Nhà vật lý hạt nhân và nhà khoa
học công nghệ nano tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Dakota,
Rosemount, Minnesota.
7000nm trong khi kích thước của hai nguyên tử
vàng rưỡi 1nm. như tên gọi của nó, khoa
học nano là khoa học về kích thước rất nhỏ.
Nhà khoa học thực thụ, có trách nhiệm không
dựa vào sự quan sát đơn thuần. Trên thực tế, các
nhà khoa học nano đã tái tạo thành công cấu trúc
nguyên tử của một số vật liệu bền và cứng nhất
trên Trái đất sửa đổi chúng để tạo ra những
cấu trúc mạnh hơn đàn hồi hơn. Nhiều nhà
phân tích bên ngoài lĩnh vực khoa học đã ủng
hộ khoa học nano tiềm năng lớn của nó. Nhà
đầu mạo hiểm, Steve Jurvetson của Draper,
Fisher và Jurvetson tin rằng: “công nghệ nano là
làn sóng công nghệ vĩ đại tiếp theo, mối liên hệ của
sự đổi mới khoa học tạo nên cuộc cách mạng cho
hầu hết các ngành công nghiệp và ảnh hưởng gián
tiếp đến cấu trúc xã hội. Các nhà sử học sẽ nhìn lại
kỷ nguyên sắp tới không kém phần hào hùng so với
Cách mạng Công nghiệp”.
Đối với phần còn lại của hội, chúng ta bị ảnh
hưởng bởi công nghệ nano vì qua hàng chục năm
thử nghiệm trong các phòng thí nghiệm, công
nghệ nano đã nhanh chóng hiện thực hóa thành
các sản phẩm hàng ngày. Ví dụ, về dụng cụ thể
thao. Trong môn thể thao như quần vợt, một cây
vợt mạnh hơn sẽ đẩy bóng đi xa hơn, nhưng để
cây vợt như thế các vật liệu tạo nên sẽ rất
nặng. Với công nghệ nano, các nhà khoa học có
thể chế tạo chiếc vợt mới mạnh hơn nhưng nhẹ
hơn vợt truyền thống bằng siêu vật liệu như ống
nano carbon. Các nhà khoa học nano cũng đã
tạo ra “siêu bóng” tennis_những quả bóng ten-
nis nảy tốt hơn. Các sợi của quả bóng được thu
nhỏ lại tới kích thước nm được thêm các lớp
phủ bên ngoài. Các sợi này rất nhỏ nên chúng
KHOA HỌC NANO
13
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
được dệt chặt chẽ với nhau hơn so với các sợi
thông thường. Các quả bóng quần vợt mới hiện
nay có ít kẽ hở hơn để giữ cho không khí không
thoát ra ngoài, giữ được độ nảy của bóng trong
thời gian dài hơn.
Nhiều ứng dụng công nghệ nano đã được kết
hợp một cách sáng tạo vào ngành mỹ phẩm.
Kẽm oxit là thành phần bí mật trong kem chống
nắng giúp bảo vệ da khỏi tia UV của mặt trời.
Các hạt oxit kẽm màu trắng, nhưng khi kích
thước của chúng được giảm xuống cỡ nm, chúng
vẻ trong suốt. Bây giờ chúng ta thể mua
kem chống nắng “không còn là màu trắng mà bạn
thường thấy, nhưng chức năng bảo vệ giống hệt
nhau.
Đáng ngạc nhiên là chất lượng thực phẩm cũng
có thể được cải thiện với sự hỗ trợ của công nghệ
nano. Newberry kể lại: Tôi nhớ lần đầu tiên nhìn
thấy sữa chua ít béo kết cấu dạng nước. Chất
béo là một chất nhũ hóa, nó tạo cho thực phẩm
độ sánh mịn”, vì vậy ít chất béo hơn có nghĩa
kết cấu sẽ thô hơn. Để giải quyết vấn đề hóc búa
về thực phẩm này, các nhà sản xuất hiện đang
tìm cách thu nhỏ các hạt chất béo trong các sản
phẩm ít chất béo. Thực phẩm vẫn chứa ít chất
béo, nhưng kết cấu mới mịn hơn vì chất béo hầu
như không nhìn thấy được. Thơm ngon và bổ
dưỡng.
Công nghệ nano bao gồm một quá trình phát
triển liên tục trong các phòng thí nghiệm hiện đại
và trong các nhà sản xuất. Newberry nói: Những
khám phá mới nhất đang thực sự được thực hiện
trong các sản phẩm và sản xuất, đó là nơi sẽ có một
loại công việc hoàn toàn mới: sản xuất, thử nghiệm
và đảm bảo chất lượng.” Dean Hart của NanoInk,
một công ty công nghệ nano, tuyên bố rằng Hiệp
hội Khoa học Quốc gia ước tính sẽ cần hai triệu
nhà công nghệ nano vào năm 2015. Hiện tại,
trên thế giới chỉ có khoảng 20.000 chuyên gia nano.
Nhu cầu về nhiều chuyên gia hơn trong một khoảng
thời gian ngắn là quá sức, nhưng chúng ta có thể
bắt đầu đào tạo các nhà công nghệ nano tương
lai bằng cách giảng dạy khoa học cho những học
sinh, sinh viên ham học hỏi ngày nay.
Trong hầu hết các lĩnh vực khoa học, nghiên
cứu thực hành truyền thống đã được dành cho
các viện nghiên cứu chuyên môn cao. Tuy nhiên
trong khoa học nano, sinh viên có thể tự tiến
hành nghiên cứu và đóng góp vào lượng tri thức
ngày càng tăng lên thông qua các thí nghiệm của
chính mình . Sinh viên quan tâm đến công nghệ
nano, có khả năng, có thể chuyển niềm đam mê
của họ thành một nghề nghiệp cụ thể. Sinh viên
khoa học nano thể bắt đầu học chuyên sâu
ngay từ cấp trung học.
Giảng dạy khoa học nano có thể là một nhiệm vụ
khó khăn, nhưng nó chắc chắn không đòi hỏi phải
phát triển một khóa học hoàn toàn mới. New-
berry gợi ý rằng các khái niệm công nghệ nano
thể được đưa vào kế hoạch dạy học bằng cách
thêm một bước thảo luận khác hoặc thực hiện các
sửa đổi nhỏ. Newberry kinh nghiệm giảng dạy
công nghệ nano cho những người trẻ tuổi trong
khuôn khổ trại hàng năm dành cho học sinh
trung học tại Trường Cao đẳng Kỹ thuật Dakota.
Việc đưa công nghệ nano vào chương trình giảng
dạy môn Khoa học có thể đơn giản hóa như:
Hóa học
Nếu bạn đang hướng dẫn một thí nghiệm liên
quan đến việc đun sôi và trộn để tạo kết tủa, bạn
không cần phải thêm một thí nghiệm khác, thay
vào đó, bạn hãy thêm một bước khác. Bạn có thể
thay thế các hóa chất thông thường bằng các hóa
chất khác một cách dễ dàng. Sau đó, học sinh có
thể lấy một dung dịch đã có vàng trong đó, tách
các nguyên tử vàng và nhóm chúng lại với nhau.
Trong quá trình này, các em sẽ tạo ra các nguyên
tử nano vàng. Chúng sẽ tạo thành dung dịch màu
đỏ và khi thêm muối vào, dung dịch chuyển sang
14 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
màu xám bạn đang thay đổi kích thước hạt.
Newberry cho biết: “Các sinh viên sau đó sẽ tạo ra
các hạt nano vàng thay vì thứ kết tủa màu trắng rơi
xuống đáy ống nghiệm. Sau đó, các em thể sử
dụng kính hiển vi để đo quan sát thấy rằng đây
không phải thuật giả kim nhưng các em vẫn đang
làm ra vàng!.
Vật lý
Khi sinh viên đang nghiên cứu về vận tốc, dụ
kinh điển là trường hợp nước chảy ra từ vòi. Các
em được yêu cầu tính toán vận tốc của nước.
Giáo viên thể thêm một bước nữa yêu cầu
học sinh quan sát dòng chảy của chất lỏng nếu
một ống hút được gắn vào vòi. Khi làm như vậy,
giáo viên thể giới thiệu cho học sinh ý tưởng về
chất lỏng chảy qua ống mao dẫn. “Đó không phải
những nguyên tử kích thước nano, nhưng
nó khá gần gũi và tương tự” - Newberry giải thích
và tâm trí của họ đang nghĩ về dòng chất lỏng
cấp độ vi mô.
Sự tham gia và các hội thực hành điều tối
quan trọng trong việc học tập lĩnh hội khoa
học của học sinh, sinh viên. Các em được kích
thích và thử thách khi được học thông qua hoạt
động trải nghiệm. Công nghệ nano hoàn hảo cho
các lớp học cốt lõi của hoạt động thực hành
của nó xoay quanh nhiều mô-đun thực hành.
Thật may mắn, những người trong lĩnh vực công
nghệ nano cam kết thúc đẩy khoa học đến nhiều
tầng lớp xã hội bao gồm cả các nhà giáo dục.
Một máy chế tạo nano, một công cụ quan trọng
trong khoa học nano, thường yêu cầu một phòng
sạch để vận hành, thể cần 80-100 triệu đô la
để xây dựng bảo trì. Ai thể mua được chứ?”
- Hart than thở. Chúng ta cần tìm cách đặt các
công cụ trong lớp học”, đó chính là lý do NanoInk
đã phát triển NanoProfessor Suite. Đây một
bộ thiết bị chương trình giảng dạy được thiết
kế cho trường trung học và không yêu cầu phòng
sạch. Mọi thứ bạn cần để bắt đầu giảng dạy khoa
học nano đều trong gói. NanoProfessor gồm
ba thiết bị: NLP 2000, một máy đúc nano để bàn;
Kính hiển vi lực nguyên tử quan sát hình ảnh vật
chất rắn; và Kính hiển vi huỳnh quang quan sát
hình ảnh vật liệu sinh học như DNA, vi rút
vi khuẩn. Ngoài ra còn một sách giáo khoa
chuyên sâu hỗ trợ; tất cả các vật liệu cần thiết
để tiến hành phòng thí nghiệm; tài liệu hỗ trợ
giảng dạy gồm đánh giá, chấm điểm, hướng dẫn
trình bày bài giảng... và quan trọng nhất
được đào tạo về thiết bị, giáo trình phòng thí
nghiệm. Điều duy nhất còn thiếu là bạn.
Sự tiến bộ của công nghệ nano đã bị cản trở do
thiếu các thiết bị tinh vi, nhưng ngay sau khi máy
móc mới được phát triển, các nhà khoa học đã
lập tức tiến hành các thử nghiệm. Mặc khoa
học nano vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu,
nhưng các ứng dụng của nó đã trải dài trong các
lĩnh vực tiêu dùng, sản xuất và sẽ sớm xuất hiện
trong các trường học. Công nghệ nano đang thay
đổi bộ mặt của khoa học, cách chúng ta sống và
thế giới chúng ta đang sống. Giờ đây, chúng
tôi có thể cải tiến máy móc và vật liệu bằng cách
làm cho chúng mạnh hơn, nhanh hơn, hiệu quả
hơn và nhỏ hơn. Không có ngành nào không thay
đổi. Khi công nghệ nano cách mạng hóa hội
của chúng ta, các nhà khoa học nano sẽ nỗ lực
đồng hành cùng các nhà giáo dục. Với các nguồn
lực thích hợp, chúng tôi có thể dẫn dắt sinh viên
của mình trong hành trình khám phá lĩnh vực
khoa học mới này đảm bảo vị trí của họ trên
hành trình xuyên suốt Thời đại Nano.
Tìm hiểu thêm thông tin tại
Dakota County Technical College: https://www.dctc.edu/
NanoProfessor: http://www.nanoprofessor.net/
NanoInk: http://www.nanoink.net/
15
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Patricia C. Broderick1 | Cẩm Khương dịch
Khéo léo phản ứng: Ứng phó với thử thách trong
chánh niệm
Chánh niệm, tức sự tỉnh thức ngay lúc này,
đây, không phán xét, cởi mở, nghe có vẻ thư thái,
tĩnh tại cũng khá tuyệt vời. nhiều khoảnh
khắc mời lên được sự tận hưởng trong tỉnh thức,
chẳng hạn như khi chúng ta bắt đầu một kỳ nghỉ
mình mong chờ từ lâu, hay khi thưởng thức
một bữa ăn ngon, hoặc khi ta ghi được bàn thắng
cho đội của mình. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu
1 Tiến sĩ Patricia Broderick là một cộng sự nghiên cứu
tại Trung tâm Nghiên cứu Phòng ngừa Bang Penn. Cô là một
nhà tâm học được cấp phép, nhà tâm học đường được
chứng nhận, cố vấn học đường được chứng nhận và là tác giả
của một chương trình giảng dạy về chánh niệm. Cô là tác giả
của “Chánh niệm trong lớp học trung học: Hướng dẫn giảng
dạy cho thanh thiếu niên.”
Chánh niệm có thể
giúp giáo viên và học
sinh làm chủ được
những tình huống đầy
thử thách như thế nào
như ta không thực sự muốn ở trong thời khắc cụ
thể này? Đối với hầu hết giáo viên và học sinh thì
đó một trải nghiệm chúng ta đã biết quá
rõ. Hãy thử tưởng tượng lúc nàykhoảnh khắc
mà một vị phụ huynh đang thách thức bạn ngay
trong buổi họp hay thời khắc bạn biết được một
đồng nghiệp bị chẩn đoán mắc bệnh hiểm ng-
hèo. Đối với các em học sinh thì lúc này thời
điểm em ấy mắc lỗi trong lớp, làm điều gì đó khó
xử trước mặt bạn bè, hoặc phát hiện ra mình bị
bỏ rơi trong một buổi tụ tập với bạn bè. Những ví
dụ này minh chứng cho phạm vi trải nghiệm
đa dạng của con người. Phần nhiều trải nghiệm
hàng ngày của chúng ta thường ít mang tính cảm
xúc hơn nhưng để cho đơn giản thì chúng ta hãy
cùng xem xét những ví dụ trên.
Một kỳ nghỉ, một bữa ăn ngon hay một chiến
thắng rất dễ chịu, thế chúng ta đối diện với
những khoảnh khắc này bằng sự háo hức và hân
hoan. Chúng ta có xu hướng muốn có những trải
nghiệm như thế. Ứng xử với những người khó
tính có thể làm chúng ta lo lắng và khiến chúng
ta đặt mình vào tâm thế như đang sẵn sàng đối
đầu trong cuộc họp phụ huynh. Chúng ta mất
16 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
bình tĩnh khi nghe một tin tức xấu và viện đủ cớ
để hoãn việc gọi cho đồng nghiệp bị ốm. Việc
phạm lỗi trong trong lớp, biểu hiện lúng túng
trước công chúng hay bị loại ra khỏi nhóm bạn
đồng trang lứa cũng làm cho học sinh bực bội và
có thể cảm thấy muốn trốn chạy.
Mỗi giây phút đều đi kèm với tính chất cảm xúc
riêng – dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính – ngay
cả khi chúng ta không nhận thức được điều đó.
Con người chúng ta đều có chung một thái độ
cơ bản về những trải nghiệm, chúng ta muốn có
nhiều hơn các loại cảm xúc dễ chịu và muốn bớt
đi (hoặc không có) các cảm xúc khó chịu. Thực
ra, “căng thẳng” một tên gọi khác của “khó
chịu”. Điều quan trọng cần lưu ý là không có lợi
ích gì trong việc tìm kiếm trải nghiệm khó chịu
cũng chẳng gì sai trong việc hưởng thụ, duy trì
hay trân quý những trải nghiệm dễ chịu cả. Thực
tế việc thưởng thức trong chánh niệm những
trải nghiệm tích cực có thể làm tăng trưởng tính
kiên cường (Smith & Bryant, 2006). Tuy nhiên,
khi chúng ta gặp vấn đề trong việc đương đầu với
những những khó khăn không tránh khỏi trong
cuộc sống hoặc khi chúng ta tình nguyện tiếp
sức thêm cho chính gánh nặng căng thẳng của
mình thì đó là lúc chúng ta cần lấy lại cân bằng.
Do chúng ta bị thúc đẩy bởi kỳ vọng rằng mình
có khả năng làm những điều khó chịu biến mất,
chúng ta thường nỗ lực để quản lý sự căng thẳng
hay trải nghiệm khó chịu bằng cách cố gắng sửa
đổi nó. Sau một đợt ăn kiêng theo chế độ, chúng
ta lại tăng cân gần như cũ và rồi lại chuyển qua
một chế độ ăn kiêng khác, rồi lại khác nữa
kết quả thì vẫn tương tự. Chúng ta dùng rượu và
những chất khác để tự thư giãn và giải toả những
rắc rối của bản thân bằng cách quên đi nhưng
rồi lại thức giấc lúc nửa đêm với những vấn đề
quay mòng mòng trong đầu. Chúng ta trở nên
thường xuyên cáu bẳn và kiểm soát quá mức đối
với một em học sinh quen chọc tức mình dự
đoán trước từng cử động khó chịu của em ấy.
Việc quản lý căng thẳng của chúng ta có tính chu
kỳ, thể hiện bằng việc chúng ta cố cải biến những
tình huống khó chịu thành những tình huống phù
hợp hơn với bản thân một cách lặp đi lặp lại. Đôi
khi chúng ta làm tốt chiến lược này nhưng về lâu
dài thì cuối cùng chúng ta cũng phải đối mặt với
những vấn đề tương tự hết lần này đến lần khác,
làm bản thân mình bực dọc suốt cả quá trình.
Chúng ta thật có lý và sáng suốt khi áp dụng kỹ
năng sửa chữa và giải quyết vấn đề đối với những
thứ dễ dàng thay đổi được. Rõ ràng không có
lợi lộc trong việc vô thức chấp nhận một điều
thiếu hiệu quả hay có hại đến bản thân và người
khác. Đó do chúng ta dạy học sinh lập kế
hoạch, biện luận hay giải quyết vấn đề (Elias
& Tobias, 1996; Kendall & Braswell, 1982). Đa
phần thì những phương pháp ấy phụ thuộc vào
tư duy logic áp dụng thành công nhất đối với
những vấn đề được xác định ràng, với những
giải pháp đã được xác định cụ thể chẳng hạn như
cách học, giải toán, hay ăn uống lành mạnh. Tuy
nhiên không phải vấn đề nào của giáo viên hay
học sinh cũng được xác định rõ ràng (Kitchener,
1983). Một số thử thách rất thực tế trong cuộc
sống hay lớp học lại là những vấn đề không được
xác định rõ ràng, bị cảm xúc chi phối hay không
có câu trả lời rạch ròi cụ thể. Làm thế nào để tôi
ứng xử với những học trò nóng tính của mình?
Làm sao tôi có thể duy trì được sự thấu hiểu đối
với những phụ huynh không hợp tác? Làm sao
tôi có thể duy trì được sự cân bằng trong khi
tôi liên tục bị yêu cầu làm nhiều thêm? Chánh
niệm mang đến cho cả giáo viên và học sinh một
cách tiếp cận khác đến những vấn đề khó khăn,
không rõ ràng cụ thể và cả những cảm xúc khó
chịu trong cuộc sống thực tế. Điều đó bắt đầu
bằng việc nhận ra rằng những cảm xúc không dễ
chịu có thể chỉ là một dấu hiệu báo rằng bạn cần
hành động theo một cách nào đó, nhưng chính
bản thân những cảm xúc ấy không phải vấn đề.
Có rất nhiều hành vi liều lĩnh xu hướng nguy
17
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
hiểm của thanh thiếu niên như trì hoãn, quậy
phá, ăn uống thiếu điều độ, tự cắt mình, uống
rượu, bạo lực, dùng ma túy, nghiện công nghệ
và nhiều thứ khác – đều có cùng mẫu số chung.
Các hành vi này có thể liên quan tới việc tránh né
trải nghiệm gây cảm xúc khó chịu bằng cách cố
gắng làm cho nó biến mất. Mức độ chúng ta thực
hiện điều này là thang đo thể hiện khả năng chịu
đựng khổ đau của mình (García- Oliva & Piquer-
as, 2016; Simons & Gaher, 2005). Tất cả chúng ta
đều có giới hạn của mình nhưng những cá nhân
không chịu đựng được sự khổ đau hay không
khả năng đương đầu để thích ứng thì thường dễ
bị kích động và có nhiều nguy mắc phải một
loạt các vấn đề về tâm lý và hành vi (Zvolensky &
Hogan, 2013). Chúng ta biết rằng chúng ta sẵn
sàng phản ứng một cách ý thức và vô thức
trước những mối đe dọa. Mức độ căng thẳng
hoặc khủng hoảng tinh thần cao có thể làm con
người dễ nhạy cảm với căng thẳng, khiến họ khó
chịu đựng nổi những điều không may trong cuộc
sống. Đôi khi họ bắt đầu những hành vi liều lĩnh
như lạm dụng thuốc họ cố làm cho ức về
nỗi đau trong quá khứ ngủ yên. Tuy nhiên những
phản ứng nói chung khi dị ứng với những điều
khó chịu còn được thể hiện qua những cách
thông thường hơn như tránh làm bài tập về nhà
nhàm chán, cúp học, hay cư xử không đúng mực.
Thông thường thì học sinh những hành vi cố
xua đi những cảm giác không mong muốn, hay
khó chịu như thiếu tự tin, chán nản, bất an, hoặc
lo lắng những hành vi này còn được củng cố
thêm bởi những giả định ngầm nào đó. Đặc biệt,
chúng ta có vẻ tán thành niềm tin mang tính văn
hoá rằng những điều khó chịu phải biến đi. Khi
chúng ta không thể làm những điều không hay
trong cuộc sống biến mất, chúng ta thường đổ
dồn vào một vài sự phán xét, tự chỉ trích bản thân
trách người khác đã tạo ra hoàn cảnh sống
không hoàn hảo.
Cần nhắc lại rằng việc sửa chữa vấn đề hay làm
cho mọi thứ tốt hơn không có hại gì cả. Điều này
chỉ là chuyện thường tình. Vấn đề nếu chúng
ta không ý thức được rằng chúng ta khuynh
hướng phản ứng tự nhiên khi mình cho rằng
những điều khó chịu mối đe dọa, thì những
nỗ lực sửa đổi những điều gì đó của chúng ta chỉ
khiến chúng trở nên tồi tệ hơn mà thôi. Hãy thử
tưởng tượng tình huống giả định này. Một học
sinh đang đi lên cầu thang và xung quanh là bạn
cùng lớp của mình. Cậu vấp mạnh, ngã đập
đầu gối, làm rơi dụng cụ thể thao những quyển
sách cậu đang cầm, nằm úp mặt xuống
những bậc thang. Những đứa trẻ khác quay qua
nhìn xem chuyện đã xảy ra. Một số hỏi xem
cậu làm sao không, một số khác bắt đầu
cười rúc rích và chế giễu cậu bé. Mặt cậu đỏ ửng
lên, tim đập mạnh, đầu gối thì rất đau. Cậu
vội vàng lấy lại bình tĩnh, đi tiếp nhanh nhất
có thể. Nhìn bề ngoài thì cậu vẻ đã hồi phục.
Nhưng bên trong tâm cậu thì chạy loạn xạ: Tụi
chắc đang nghĩ mình thật là ngu ngốc. Cố lên nào,
đừng trẻ con nữa. Ráng nhịn đi và cố gắng lên nào.
Đừng cho tụi nó thấy mày đang bị đau. Mình biết là
ai đó đã ngáng chân mình. Mình sẽ cho chúng thấy.
18 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Tiếng nói trong tâm trí bắt đầu hoạt động trở lại
khi cậu nghĩ về những lời trêu chọc của bạn,
càng làm tăng thêm nỗi lo lắng trong nội tâm
của cậu. Mỗi khi cậu đi ngang qua cái cầu thang
đó là cậu lại nhớ mình nằm sõng soài trên những
bậc thang. Cậu cũng chắc chắn rằng ai cũng nhớ
điều đó. Quá trình nghiền ngẫm về việc sao
cậu lại thể vụng về như thế cứ tua đi tua lại
trong vòng suy nghĩ không nguôi. Cậu cố gắng
tránh né hoặc đè nén sự ngượng ngùng bằng
cách đổ lỗi cho người khác và vẽ ra một kịch bản
để trả thù. ngã không chỉ khó chịu về mặt
cảm giác vật lý trên thân mà sự khó chịu còn gia
tăng thêm do cậu có những dòng suy nghĩ mang
tính đánh giá. Sự thêu dệt thêm trong nội tâm
làm duy trì sự khó chịu của vết thương trên
thể tạo ra sự khó chịu về mặt cảm xúc. Nỗi
đau có thể cảm nhận ở đầu gối nhưng nỗi khổ thì
lại ở trong tâm trí. Đó là cú đúp đau khổ. Những
suy nghĩ tự động và cảm xúc kích hoạt chuỗi
phản ứng sinh lý có liên quan đến khả năng ứng
phó với căng thẳng. Tâm trí của cậu liên tục
vòng tua đi tua lại với nỗ lực biện minh cho trải
nghiệm của mình và tránh cảm giác xấu hổ hay
bất lực. Và có lẽ quan trọng nhất là những nỗ lực
này phần lớn là vô tác dụng bởi ký ức về nỗi đau
cứ trồi lên liên tục. Học sinh không phải đối
tượng duy nhất xử lý những mối đe dọa do mình
tự nhận thức bằng cách tránh những cảm giác
khó chịu. Những dòng suy nghĩ tương tự (ví dụ
như: Lẽ ra mình không phải chịu điều này. Mọi sự
lẽ ra không nên khó khăn thế này) nghe vẻ cũng
quen thuộc cả với giáo viên.
Bạn thể sẽ tự hỏi có cách nào khác không
trong khi con người thói quen cố hữu là cố
gắng thay đổi hay tránh né những điều khó chịu.
lẽ cũng không quá ngạc nhiên rằng những
nhà nghiên cứu đương đại đã phát hiện ra rằng
nhiều cách tiếp cận truyền thống về hạnh phúc
đã nói mãi rằng: việc tránh những cảm xúc
tiêu cực hoặc khó chịu thường không giúp ích gì,
chứ chưa nói đến việc có khả năng làm được hay
không (Hayes, 1994). Trong khi tránh những
suy nghĩ hay cảm xúc và cảm giác tiêu cực có thể
mang lại sự thỏa mãn tức thời, thì việc tránh né
thường xuyên lại dẫn đến những hệ lụy nghiêm
trọng khi điều đó trở thành phong cách ứng phó
(Spinhoven, Drost, de Rooij, van Hemert, & Pen-
ninx, 2014). Kiến thức này đặc biệt quan trọng
đối với thanh thiếu niên bởi não bộ của các em
vô cùng nhạy cảm với những trải nghiệm về cảm
xúc và thói quen ứng phó của các em đang dần
được hình thành.
Các em ở độ tuổi thanh thiếu niên cho biết, tần
suất trải nghiệm những ảnh hưởng tiêu cực
hàng ngày cao hơn khi các em giai đoạn 10-
18 tuổi (Larson, Moneta, Richards & Wilson,
2002). Nhưng chính các em lại gặp nhiều khó
khăn trong việc nhận diện và phân loại các cảm
xúc như tức giận, buồn bã, sợ hãi, chán ghét, và
bực bội hơn so với lứa tuổi trước đó, hay so với
người lớn (Nook, Sasse, Lambert, McLaughlin &
Somerville, 2018). Có lẽ vậy nên việc trải nghiệm
các ảnh hưởng tiêu cực lứa tuổi vị thành niên
có liên quan đến vòng lặp cảm xúc phức tạp hơn
là những cảm xúc gặp phải trong thời thơ ấu
điều đó thách thức khả năng ứng phó nhiều hơn.
Như đã miêu tả trong ví dụ giả định, những chiến
lược mà thanh thiếu niên thường sử dụng để ứng
phó với khổ đau (ví dụ như tránh né cảm xúc, đè
nén cảm xúc, suy nghĩ đi suy nghĩ lại) không
phù hợp và dẫn đến nhiều vấn đề hơn về lâu dài.
Mặc dù việc tránh né những trải nghiệm cảm xúc
mang lại cảm giác nhẹ nhõm trước mắt nhưng
có thể gây ra nhiều hậu quả lâu dài hơn như trầm
cảm, lo âu, hội bị hạn chế quan hệ xã hội
kém (Eastabrook, Flynn, & Hollenstein, 2014).
Chứng nghiền ngẫm hay việc tập trung liên tục
vào các sự kiện, duy cảm xúc tiêu cực để
giảm nỗi đau trong một tình huống là nguy
phổ biến dẫn đến trầm cảm và lo âu người trẻ
người lớn (Rood, Roelofs, Bögels, Nolen- Hoek-
sema, & Schouten, 2009). Một cuộc kiểm tra gần
19
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
đây về nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng những
chiến lược bất hợp nhiều người trẻ đang
áp dụng để quản lý những cơn đau cảm xúc của
mình thực ra đóng vai trò là nguyên nhân gây ra
sự phát triển của những vấn đề kéo theo sau này
(Schäfer, Naumann, Holmes, Tuschen- Cafer, &
Samson, 2017). Nhiều chứng rối loạn tâm thần
nghiêm trọng bắt nguồn ở lứa tuổi thiếu niên và
nhiều triệu chứng rối loạn ít nghiêm trọng hơn
như lo âu hay trầm cảm lại phổ biến đến mức
đáng báo động (Lee et al., 2014; Spear, 2009).
Sự trưởng thành về mặt tâm nhiều giáo
viên trung học phát hiện thấy ở học sinh của
mình như khả năng biện luận trừu tượng hoặc
hiểu được góc nhìn của người khác thì cũng
cái giá của nó. Bởi người trẻ khả năng
duy trừu tượng nên họ cũng khả năng chìm
vào dòng suy tưởng giả định (Ví dụ: Chuyện gì xảy
ra nếu mình giàu hoặc gầy như cô ấy?) và có thể đi
đến những kết luận phản thực tế (Ví dụ: Thì mình
sẽ hạnh phúc hơn). Cũng chính những kỹ năng
hiểu biết nội tâm cho phép học sinh hiểu được
quan điểm của Atticus Finch trong tiểu thuyết
của Harper Lee, tên Giết Con Chim Nhại, cho
phép các em tưởng tượng và ngẫm nghĩ xem bạn
bè và thầy cô đang nghĩ gì về mình (Blakemore &
Mills, 2014). Truyền thông xã hội tạo điều kiện để
sẵn sàng so sánh bản thân người khác, một
quá trình được gọi so sánh xã hội. Quá trình
so sánh xã hội vốn đã tăng mạnh trong giai đoạn
thanh thiếu niên thì do việc sử dụng quá mức các
phương tiện truyền thông lại khiến điều đó càng
trở nên trầm trọng hơn dẫn tới những triệu
chứng trầm cảm (Nesi & Prinstein, 2015). Nạn
bắt nạt trực tuyến được xem mối đe dọa đặc
biệt đối với thanh thiếu niên bởi vì hành vi xấu hổ
của một người bị phơi bày công khai, thì sẽ
dẫn đến việc so sánh với người khác xa lánh
xã hội (Nilan, Burgess, Hobbs, Threadgold, & Al-
exander, 2015).
Nhìn chung, mặc những thay đổi của thanh
thiếu niên trong sự phát triển về mặt nhận thức
cảm xúc có nhiều lợi ích ràng nhưng điều
đó cũng làm gia tăng chứng nghiền ngẫm
đau buồn đối với một số người trẻ. Cũng như các
nhà giáo chăm chỉ làm việc để chuẩn bị cho học
sinh những kiến thức kỹ năng học thuật cho
giai đoạn tiếp theo trong cuộc đời các em, thì
tương tự thế, chúng ta cũng nên chuẩn bị cho
các em những kỹ năng sống khác liên quan đến
việc điều tiết cảm xúc một cách lành mạnh. Tuy
nhiên, chúng ta cũng không thể đánh giá quá cao
tầm quan trọng của bộ kỹ năng cảm xúc xã hội
này với thanh thiếu niên, lứa tuổi mà tính đa cảm
tăng cao và mô hình điều chỉnh cảm xúc của một
người trưởng thành chỉ mới được hợp nhất (Paus,
Keshavan, & Giedd, 2008).
Chánh niệm giúp điều tiết cảm xúc như thế nào
Sự tiến bộ chính về mặt phát triển trong giai đoạn
thanh thiếu niên là việc tăng trưởng khả năng lý
luận, ra quyết định, và tư duy trừu tượng. Những
loại hình của quá trình nhận thức này hợp
lôgic, được gọi là “nhận thức lạnh” (Ví dụ: Đây là
những nhân tố dẫn đến cuộc nội chiến, hoặc Đây
là vài bước tôi thực hiện để chia nhỏ dự án này ra)
và chúng thường được dạy trong các khóa học về
kỹ năng ra quyết định hay học tập (Bergmann &
Rudman, 1985). Khi tư duy và việc ra quyết định
được thực hiện trong bối cảnh mang tính cảm
xúc, chẳng hạn như trong một nhóm bạn, thì nhận
thức có thể ít mang tính trí hơn. Nhận thức tạm
gọi là cảm tính hay “nhận thức nóng” có thể làm
biến dạng tư duy tạo cơ sở cho nhiều hành vi
mang tính bộc phát (Ví dụ: Hãy quên bài tập về
nhà đi. Chúng ta cùng tiệc tùng nào!). Thật khó đối
với hầu hết tất cả chúng ta, nhất là đối với thanh
thiếu niên, để chế ngự những cảm xúc mạnh mà
có thể tư duy một cách chín chắn và hợp lý ngay
cả khi chúng ta biết điều đó tốt hơn cho mình.
Em học sinh mà liên tục kiểm tra tin nhắn trong
lớp có vẻ như không thể kiềm chế được việc phải
xem tin nhắn của bạn mình bất chấp sự phản đối
của giáo viên. Em học sinh bị ngã trên cầu thang
20 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
lẽ không dễ dàng buông bỏ những suy nghĩ
giận dữ của mình. Trong khi nỗ lực để cảm nhận
được nhiều sự dễ chịu hơn như hưng phấn, và ít
cảm giác khó chịu hơn như bị loại trừ hay xấu hổ,
thì thanh thiếu niên cũng có thể cư xử theo cách
thiếu hiệu quả đặc biệt nếu như hành vi này cuối
cùng lại trở thành thói quen khó bỏ.
Chánh niệm đi vào tận gốc rễ của những khuynh
hướng này bằng cách khuyến khích việc khám
phá và chấp nhận mọi cảm giác mà không phán
xét. Một người có khả năng nhận biết về tư duy và
cảm xúc một cách có tỉnh thức tức là không chỉ
có mặt ở hiện tại và tò mò về những trải nghiệm
dễ chịu còn đối với tất cả mọi trải nghiệm.
Điều này là một chân khó nhưng quan trọng.
Chánh niệm không phải cảm nhận theo một
cách nào đó cảm nhận bất cứ điều tồn
tại trong cuộc sống của bạn ngay lúc này để
thể sáng suốt hơn trong việc phản ứng như thế
nào. Điều này có nghĩa ta phải thay đổi mối quan
hệ của mình với cảm giác, đặc biệt là với những
cảm giác khó chịu. Thay vì cố gắng trốn tránh
ngay khi ta nhận ra chúng thì ta ghi nhận chúng
thậm chí thể sống thuận thảo với chúng.
Điều này chính những thực hành tỉnh
thức và không phản ứng hướng tới.
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng nếu chỉ đơn giản là
tập trung vào việc quan sát những suy nghĩ, cảm
xúc và cảm giác trên thân thể thì không có ích lợi
mà thậm chí còn làm tăng thêm nỗi âu lo (Ví
dụ như: Ôi không, suy nghĩ lo lắng lại đến nữa rồi!)
Quan trọng hơn, đó là cách chúng ta quan sát
không phán xét, với trí tò mò và không phản ứng
thì mới tăng cường khả năng điều phục cảm
xúc (Ví dụ: Cảm giác lo lắng trong cơ thể tôi hiện
giờ đang ở đâu? Tôi có thể tò mò về nó không? Tôi
có thể đơn giản chỉ quan sát những suy nghĩ lo lắng
đến và đi không?) (Baer et al., 2008; Desrosiers,
Curtiss, Vine, & Klemanski, 2014).
Quá trình quan sát cảm xúc suy nghĩ một cách
không phản ứng cho chúng ta cái nhìn khái
quát về cách tâm trí mình vận hành. Thay vị bị
kẹt vào vai diễn chính trong vở kịch nội tâm của
bản thân thì chúng ta chỉ ngồi ở hàng ghế đầu và
xem vở kịch đó. Điều này cho phép chúng ta
góc nhìn rộng hơn hiểu biết sâu sắc hơn.
cũng làm dịu đi nỗi sợ hãi chúng ta thường
có về cảm giác của chính mình bởi chúng ta sẽ
bớt việc tự động tránh né. Nếu chúng ta đang
tránh điều đó, chúng ta cũng nhận thấy điều
đó, nhưng không bình luận, không phán xét.
Cảm xúc trở nên dễ chịu hơn bởi vì chúng ta can
đảm để cảm nhận chúng, và từ góc nhìn mới của
chúng ta, chúng ta thể thấy rằng chúng đến
rồi đi. Chúng ta có ít áp lực phải sửa đổi chúng,
đồng thời có khả năng chấp nhận những trải ng-
hiệm cơ bản của con người hơn.
Việc bình tâm quan sát ghi nhận cả trải ng-
hiệm dễ chịu lẫn khó chịu sẽ dễ dàng thực hiện
hơn khi ta tập trung vào hơi thở hay vào một vài
hoạt động cụ thể như ăn uống. Đây do tại
sao giáo viên thường bắt đầu từ đó. Lửa chỉ
thể thử vàng thật sự khi đối diện với căng thẳng.
Nhìn chung, lối thoát để chúng ta giảm phản ứng
bớt căng thẳng nằm chỗ ta dành tình yêu
thương khi ghi nhận những cảm xúc khó chịu
hay khi nhìn cách mà chúng ta thông thường vẫn
dùng để đối trị với chúng (Ví dụ như tự phê phán
bản thân một cách gay gắt, đả kích, suy nghĩ thái
quá, buôn chuyện, bắt nạt, tự làm hại bản thân).
Chúng ta chú ý những trải nghiệm về cảm xúc
hay nội tâm tốt nhất thể thì chúng ta cứ
để nguyên như vậy. Việc thực tập này tác
dụng khá thú vị: nó làm chúng ta thoát khỏi việc
cố giải quyết vấn đề về cảm xúc khó chịu. Chúng
ta bớt vật lộn căng thẳng hơn. Chúng ta tìm
ra những cách giải quyết các vấn đề khó khăn,
không ràng một cách ít phản ứng tự chủ
hơn. Nói một cách ẩn dụ thì chúng ta rút phích
cắm để ngưng không cho dòng điện căng thẳng
hoạt động.
21
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Phương pháp chánh niệm để tiếp cận với những
thử thách
Chúng ta biết rằng, mức độ sâu xa nào đó thì
cảm nhận được sự sợ hãi, tức giận, xấu hổ, bực
bội, lo lắng và buồn bã vẫn tốt hơn là che đậy nó.
Nhưng vì đó không phải là điều chúng ta thường
làm nên chúng ta cần phải luyện tập. Bạn có thể
thử thí nghiệm thực hành chánh niệm khi lần tới
bạn gặp điều gì đó khó chịu (tức là căng thẳng).
Có thể con bạn cáu kỉnh trước giờ học bạn phải
vội vàng đi làm. Khó chịu.thể một người đáng
lẽ sẽ giúp bạn thực hiện một dự án thì lại không
xuất hiện. Khó chịu.thể cơn đau lưng của bạn
trở lại hoặc một học sinh quậy phá trong lớp của
bạn và bạn không thể hoàn thành bài giảng của
mình. Khó chịu. Chúng ta không thể thoát khỏi
mọi căng thẳng, nhưng chúng ta không cần phải
làm cho nó tồi tệ hơn. Hãy nhớ rằng không ai ủng
hộ việc chúng ta cố tình làm cho bản thân khó
chịu hoặc tìm kiếm những trải nghiệm khó chịu
để chuốc thêm đau khổ. Có rất nhiều sự kiện xảy
ra tự nhiên trong ngày không theo ý mình. Chỉ
cần nhận diện những ảnh hưởng mà trải nghiệm
mang lại cho chúng ta (tức dễ chịu, khó chịu
hoặc trung tính) và những cảm giác trên cơ thể,
suy nghĩ cảm xúc kèm theo sẽ cho ta thêm
một góc nhìn khác cho trải nghiệm, xây dựng
tính kiên cường và bền chí (Duckworth, 2016). Sự
kiên cường về mặt cảm xúc này thể bảo vệ
thanh thiếu niên khỏi bị choáng ngợp bởi cảm
xúc mạnh như tức giận, buồn bã hoặc những
cảm xúc đau khổ khác mà có thể dẫn đến những
hành động tai hại.
Giáo viên những người chăm sóc tự nhiên
bản năng hướng tới việc làm cho mọi thứ tốt hơn,
vậy, chánh niệm vào thói quen tránh cảm
giác khó chịu của bản thân cũng là một điểm
khởi đầu tốt. Khi nói đến cảm xúc, không phải
mọi thứ đều thể sửa đổi hoặc khiến chúng
trở nên dễ chịu chúng ta không thể sử dụng
tư duy dựa trên hiệu suất thực hiện cho các vấn
đề cảm xúc. Nhiều thanh thiếu niên đã bắt đầu
tin rằng chỉ có những cảm xúc dễ chịu mới được
chấp nhận những cảm xúc không thoải mái
là dấu hiệu của sự yếu kém cá nhân hoặc thiếu
năng lực trong cuộc sống. Sự lầm tưởng này cho
thấy một gánh nặng tinh thần lớn nhưng vẫn
thể tránh được. Điều tối quan trọng học sinh
phải học cách nhận ra cảm giác không thoải mái
của mình tại thời điểm này và hiểu rằng các em
không cần phải thích những cảm giác này nếu
các em kiểm soát nỗi muộn phiền của mình một
cách cân bằng và lành mạnh.
Giáo viên có thể làm mẫu cho sự cân bằng cảm
xúc để giúp học sinh hiểu xu hướng che đậy
cảm giác khó chịu của bản thân mình. Ví dụ,
giáo viên thể phản hồi với học sinh khi các
em gặp áp lực hoặc phàn nàn về bài tập ở trường
bằng cách thừa nhận sự không hài lòng với điều
đó một cách rõ ràng mà không tỏ ra mình đang
muốn sửa đổi hoặc đối đầu với các em. Cũng
có thể, khi điều đó ràng đang gây căng
thẳng trong lớp học, hãy nhìn nhận nó một cách
cởi mở, không phán xét và tại thời điểm đó, cũng
là cách làm mẫu cho học sinh phương pháp thực
hành chánh niệm đối với những hoàn cảnh khó
chịu. Các bài thực tập trong chương này thể
cung cấp nền tảng cho kỹ năng cảm xúc này.
Đôi khi áp lực về thời gian hoặc yêu cầu về thành
quả, sự mệt mỏi, bồn chồn chán nản bị tích
tụ trong lớp học khiến học sinh phản ứng theo
những cách tiêu cực. Nếu chỉ đơn thuần là tránh
sự hiển nhiên của hoàn cảnh bằng cách cứ
tiếp tục cố chấp sẽ khiến vấn đề trở nên tồi tệ
hơn. Cho phép các em học sinh thở một vài hơi
thở chánh niệm hoặc cho các em tham gia vận
động thể chứng tỏ bạn ghi nhận tình huống
(Ví dụ: Tôi biết chúng ta đã làm việc chăm chỉ
và các em đang cảm thấy mệt mỏi.) và cung cấp
các công cụ để kiểm soát căng thẳng. Nhận biết
đơn giản về cơ thể và cảm nhận các cảm giác của
nó (Ví dụ: Chú ý tới đôi chân trên sàn, căng thẳng
vai) không cần thay đổi bất cứ điều
22 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
thể là một liều thuốc giải đặc biệt hiệu quả cho
căng thẳng. Nhận thức về thể hay cảm nhận
nội thân (interoception) giúp học sinh điều chỉnh
căng thẳng của các em bởi nó tạo sự chú ý tới cơ
thể và hạn chế sự khuếch đại nỗi đau khổ do các
luồng suy nghĩ xoắn ốc và phản ứng cảm xúc gây
ra (Roeser & Pinela, 2014).
Mặc dù “góc bình an” trong lớp học hoặc những
nơi học sinh có thể đến để tự điều chỉnh bản thân
đang trở nên phổ biến hơn đối với trẻ nhỏ (Lant-
ieri, 2002) nhưng những nơi này lại thường không
dành cho thanh thiếu niên. Mục đích của góc bình
an trong lớp học là cung cấp cho học sinh một nơi
an toàn để các em hội đối trị những cảm
xúc mạnh mẽ bằng cách nhận ra chúng, chấp
nhận chúng khôi phục sự cân bằng. Sau đó,
các em có thể tìm ra biện pháp mang tính trách
nhiệm để hành động không làm tổn thương
bản thân hoặc người khác. Cơ hội tự nguyện nghỉ
ngơi để khôi phục khả năng kiểm soát cảm xúc
chắc chắn là điều mà thanh thiếu niên cần. Dạy
cho các em một số cách thức không mang tính
kỷ luật để thực hiện điều này trong môi trường
giáo dục trung học có thể giúp thanh thiếu niên
phát triển khả năng tự điều chỉnh tốt hơn và cuối
cùng là cải thiện được việc học tập.
23
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
1Cathy L.Seeley | Ngô Trọng Đại dịch
Học sinh học được nhiều hơn khi chúng ta để
cho các em tự “đánh vật” với một bài toán trước
khi chúng ta dạy học sinh cách giải.
Ở thế kỷ 20, tôi được đào tạo cách dạy toán học
giống như cách tôi đã được học. Tôi các
bạn giáo sinh thực tập khác được yêu cầu chuẩn
bị bài học kỹ lưỡng, phải trình bày khái niệm hay
quy trình dự kiến một cách ràng (tất nhiên,
cùng với cả sự nhiệt tình), và hướng dẫn học sinh
1 Nguồn: http://www.ascd.org/publications/educa-
tional-leadership/oct17/vol75/num02/Turning-Teaching-Up-
side-Down.aspx
qua các dụ. Cuối cùng, chúng tôi giao bài tập
về nhà, bao gồm một số bài toán trong đó học
sinh sẽ áp dụng quy trình vừa học. Chúng tôi
hy vọng học sinh sẽ đặt ra câu hỏi nếu các em
không hiểu.
Cách tôi học để dạy toán không khác nhiều so với
cách của các giáo viên dạy các môn khác. Những
năm sau đó,chúng tôi bắt đầu nhận ra rằng việc
cung cấp thông tin một chiều này có thể biến học
sinh thành nạn nhân của sự bực bội và thất bại,
đặc biệt là khi các em phải đối mặt với những vấn
đề khó khăn mà không được dạy cách xử . Nếu
chúng ta chỉ dạy học sinh bằng cách cung cấp
CHUYỂN SANG DY HỌC ĐO NGƯỢC
Dạy học truyền thống Dạy học đảo ngược
- Giáo viên giải thích định nghĩa hoặc khái
niệm.
- Học sinh và giáo viên cùng nhau làm ví dụ.
- Học sinh ap dụng kiến thức đã học vào giải
bài toán.
- Học sinh giải quyết vấn đề chưa từng
gặp trước đó.
- Học sinh và giáo viên thảo luận về suy nghĩ
và cách làm của học sinh.
- Giáo viên giúp kết nối cuộc thảo luận trong
lớp với mục tiêu bài học.
Hình 1. Dạy học truyền thống và dạy học đảo ngược
24 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
cho các em những quy trình cụ thể để giải quyết
các vấn đề có thể dự đoán được, thì học sinh sẽ
làm thế nào để học cách đối phó với những vấn
đề trông không giống với những gì ở cuối chương
sách?
Một mô hình tôi gọi dạy học đảo ngược
thể giúp học sinh chuẩn bị tốt hơn để trở thành
những người giải quyết vấn đề linh hoạt và mạnh
mẽ. Trong hình này (xem hình 1), giáo viên
chỉ giao bài tập sau khi đã dạy cho học sinh cách
giải. Thay vào đó, dạy học đảo ngược bắt đầu với
một vấn đề hoặc nhiệm vụ học sinh thể
chưa biết cách giải quyết (Seeley, 2014;2016).
Nỗ lực để đạt mục đích
Trong quá khứ, nhiều người trong chúng ta đã
cố gắng bảo vệ học sinh của mình khỏi thất bại,
đặc biệt là trong lớp học toán. Kết quả nhiều
thế hệ học sinh đã học cách từ bỏ mỗi khi bài tập
trở nên khó nhằn. Nhưng hóa ra “vật lộn” một
cách có tính xây dựng với các khái niệm toán học
có thể thu hút suy nghĩ của học sinh và giúp các
em học được tính kiên trì khi giải quyết vấn đề
(Hội đồng giáo viên Toán học quốc gia, 2014). Từ
nghiên cứu về tư duy phát triển của Carol Dweck
(2007), chúng ta biết rằng não bộ con người phát
triển khi người đó đấu tranh một cách hiệu quả
với những vấn đề khó, ví dụ như giải một bài toán
đầy thử thách (Boaler, 2015).
Ngày càng có nhiều giáo viên xác nhận rằng học
sinh thể hưởng lợi từ việc nỗ lực giải quyết
những vấn đề mà các em chưa được dạy cho
cách giải quyết cụ thể. Trong quá trình này, học
sinh được học về sức mạnh của nỗ lực và sự bền
bỉ, trở thành những người giải quyết vấn đề tự tin
hơn và thậm chí phát triển trí thông minh của
mình.
Dạy học đảo ngược bằng hành động.
Không giống lớp học truyền thống lấy giáo viên
làm trung tâm dựa trên bài giảng, lớp học đảo
ngược được điều phối bởi giáo viên nhưng tập
trung vào duy của học sinh. Mục tiêu của bài
học không chỉ đơn giản là học sinh giải được một
bài toán, mà còn để học sinh học những mục
đích toán học của bài học bằng cách sử dụng vấn
đề làm nền tảng để suy nghĩ thảo luận. Sau
khi chọn một vấn đề để bắt đầu bài học, giáo viên
trở thành người điều phối cuộc thảo luận của
lớp học - làm thế nào để học sinh chia sẻ suy
nghĩ của mình theo những cách mà dẫn đến kết
quả bài học và giúp học sinh liên kết cuộc thảo
luận với mục tiêu toán học. Khi giáo viên đi vòng
quanh lớp, ấy thường đưa ra những câu hỏi
để giúp học sinh làm rõ suy nghĩ của mình hoặc
hiểu sâu hơn. Trong lúc này, giáo viên cũng dần
đưa ra quyết định về việc học sinh sẽ trình bày
với cả lớp điều gì và các em sẽ được gọi lên theo
thứ tự nào.
Thỉnh thoảng, cuộc thảo luận của học sinh sẽ
đem đến kết quả trực tiếp giáo viên mong
muốn như trong bài học lớp 2 liên quan đến phép
trừ mà tôi sẽ trình bày rõ hơn trong bài viết này.
Với những trường hợp khác, lẽ giáo viên cần
phải điều hướng cuộc thảo luận một cách trực
tiếp hơn, đi thẳng vào kết quả môn học. Trong
cả hai trường hợp, học sinh sẽ tham gia vào việc
suy nghĩ về vấn đề và do đó, các em có nhiều khả
năng học được nhiều về toán học hơn so với việc
được chỉ dẫn phải làm gì.
Hãy cùng xét bốn dụ minh họa cho khái niệm
đảo ngược và chứng minh được sự đa dạng các
nhiệm vụ mà giáo viên có thể chọn để bắt đầu bài
học đảo ngược.
Bắt đầu với một hình ảnh hoặc video hấp dẫn:
Có bao nhiêu cái bánh quy?
Trong một bài học ở lớp 2, học sinh xem một
đoạn video về một bàn tay đầy lông vươn lên sau
quầy bếp lấy đi một gói bánh quy chưa mở.
Sau vài âm thanh nhai và lạch cạch, bàn tay đặt
gói bánh trở lại quầy với một ít bánh quy đã biến
mất. Sau đó, giáo viên hỏi “Các em chú ý thấy
25
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
điều gì trong video đó? Các em thắc mắc điều
gì?” Các học sinh trình bày quan sát của họ
giáo viên giúp họ tập trung vào câu hỏi họ
cần giải quyết: Con quái vật đã ăn bao nhiêu cái
bánh quy?
Sau đó học sinh làm việc theo cặp để giải bài
toán. Khi giáo viên di chuyển xung quanh các
cặp, cô nhận thấy rằng các học sinh đã tiếp cận
vấn đề theo những cách khác nhau. Một trong
những vai trò quan trọng của giáo viên trong
hình thức giảng dạy này quyết định cô sẽ gọi
ai trong suốt cuộc thảo luận của cả lớp học
sinh nên trình bày bài của mình theo trình tự nào
để làm nổi bật các cách tiếp cận khác nhau. Kết
thúc bài học, giáo viên có thể viết lên bảng một
bản tóm tắt rõ ràng về bài làm của học sinh, giúp
học sinh hiểu rằng phép trừ có thể là kết quả của
dấu trừ hoặc hiệu, giúp học sinh nhận thấy rằng
kết quả ở hai vế có liên quan với nhau.
Thiết lập bài học này dựa trên hình Bài học ba
hành động của Dan Meyer (2011). Xem video đã
chỉnh sửa của bài học này tại Teaching Channel.
https://www.teachingchannel.com/blog/model-
ing-with-mathematics
Bắt đầu với các ví dụ thực tế: Điều gì xảy ra nếu
thay lốp xe lớn hơn?
Những bài toán ứng dụng trong cuộc sống
hàng ngày có khả năng thu hút sự quan tâm của
học sinh. Ví dụ, trong bài học lý luận định lượng
lớp 12 được trình bày trong video clip này2. Giáo
viên mang vào một chiếc lốp xe (phụ tùng ô
của ấy). Cô đặt trên sàn yêu cầu học
sinh ghi lại các con số trên lốp xe và thảo luận về
những con số đó thể hiện điều gì về các thông số
của lốp xe. Sau đó, cô yêu cầu học sinh của mình
xem xét điều gì sẽ xảy ra nếu ai đó thay lốp xe này
bằng lốp xe lớn hơn.
2 https://www.youtube.com/watch?v=kNNMG7Wh9eU&feature=youtube
Bài giảng và video này thuộc về Advanced Quantitative Reasoning, một khóa học được phát triển bởi
Texas Association of Supervisors of Mathematics đồng hành với Trung tâm Charles A. Dana tại trường
đại học University of Texas, Austin.
Lớp học đưa ra các ý tưởng, suy đoán rằng kích
thước lốp xe sẽ ảnh hưởng đến tốc độ chạy xe,
khả năng tiết kiệm xăng, độ chính xác của đồng
hồ đo lường, liệu chiếc xe sẽ chiếm nhiều chỗ
hơn trên đường hoặc trong một điểm đỗ xe,…
Cuối cùng, giáo viên thu hẹp nội dung cuộc thảo
luận cho học sinh là quyết định điều tra về ảnh
hưởng của việc tiết kiệm xăng nếu kích thước lốp
xe thay đổi. Cô chọn câu hỏi này để học sinh
thể hiểu sâu hơn về tỉ lệ thuận khi học cách sử
dụng mô hình toán học trong các bài toán không
xác định. Sau đó, cô di chuyển quanh các nhóm
khi học sinh giải quyết vấn đề theo cách tương
tự như giáo viên lớp 2 trong ví dụ “Có bao nhiêu
bánh quy” và trọng điểm của bài học là học sinh
trình bày kết quả của mình cho cả nhóm.
Bắt đầu với một vấn đề cơ bản: Làm thế nào để
tạo ra sơn màu tím hoàn hảo?
Một giáo viên lớp 6 giới thiệu khái niệm tỉ số bằng
cách trình bày một bài toán khá đơn giản. Cô cho
học sinh thấy rằng có thể đạt được sắc thái
hoàn hảo của màu sơn tím bằng cách trộn 2 cốc
sơn xanh da trời với 3 cốc sơn đỏ. Sau đó, cô yêu
cầu học sinh tìm hiểu cần bao nhiêu cốc sơn đỏ
và sơn xanh da trời để tạo ra 20 cốc sơn màu tím
hoàn hảo bằng cách tiến hành trên những hình
khối lập phương và các bảng vẽ mẫu.
Khi học sinh làm việc theo nhóm nhỏ để đưa ra
hình ảnh hình, giáo viên di chuyển xung
quanh lớp, xem quá trình như thế nào và đặt
câu hỏi để thúc đẩy tư duy của các em. Nếu một
nhóm đưa ra ba giải pháp khác nhau, giáo viên
nhắc học sinh cần đạt được sự đồng thuận của
cả nhóm. Thay vì hướng dẫn học sinh câu trả lời
đúng, cô ấy nói với các em ấy rằng cô ấy sẽ quay
lại sau vài phút để xem các em đã thống nhất ý
kiến nào. Bằng cách này, học sinh có được kinh
nghiệm trong việc giải thích ý tưởng của chính
mình lắng nghe ý kiến của người khác. Bạn
có thể xem video đã chỉnh sửa một phần của bài
26 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
học này3.
Bắt đầu với một sai lầm: Tọa độ chính xác
không?
Một giáo viên dạy toán trung học phổ thông đặt
một đồ thị lên bảng với một số tọa độ được dán
nhãn bằng hai màu khác nhau. Giáo viên cho
học sinh biết có thể có lỗi trong các tọa độ được
hiển thị bằng màu đỏ. Học sinh làm việc theo cặp
để thảo luận về đề bài trên, xem xét xem có sai
sót nào không xác định các trường hợp giải
của nhóm mình trình bày cho các thành viên
còn lại của lớp. Sau đó, giáo viên cho cả lớp thảo
luận thành nhóm lớn, trong đó học sinh trình bày
suy nghĩ của mình với các bạn, cuối cùng đi đến
thống nhất về giải pháp đúng4.
Chúng ta thể học được từ những lớp học
đảo ngược này
Đoạn trích video ngắn đã được chỉnh sửa về các
lớp học như thế này có thể không hiển thị tất
cả các yếu tố của một bài học đảo ngược. Ví dụ,
trong một số bài học đầy đủ trích dẫn trong
video clip trên, chúng ta thể thấy rằng giáo
viên đã giúp học sinh tổng kết kết luận toán học
cuối bài học. Tuy nhiên, những chúng ta
thể nhận thấy qua các ví dụ này là các loại nhiệm
vụ giáo viên đã chọn cách giáo viên xây
dựng bài giảng trong lớp.
Trong mỗi lớp học này, giáo viên chuẩn bị cho
cả nhóm xây dựng nhiệm vụ hoặc tạo điều kiện
cho học sinh hình thành câu hỏi các em sẽ
cố gắng trả lời. Tất cả bốn loại nhiệm vụ được
sử dụng trong các ví dụ này có thể dễ dàng được
điều chỉnh cho phù hợp với bất kỳ lớp nào và cũng
có nhiều loại vấn đề hoặc nhiệm vụ khác cũng sẽ
phù hợp cho các bài học đảo ngược. Khi lựa chọn
nhiệm vụ cho các bài học như vậy, giáo viên cần
3 Từ Illustrative Mathematics (Toán học Minh họa), Smarter Balanced Assessment
Consortium and Teaching Channel: https://learn.teachingchannel.com/video/ratios-and-propor-
tions-lesson-sbac
4 Bạn có thể xem video đã chỉnh sửa của bài học này từ PBS Learning Media: http://mass.
pbslearningmedia.org/resource/mtc13.pd.math.deb/encouraging-debate
tìm kiếm các nhiệm vụ “có tính phân hóa”. Tức
là tìm kiếm các nhiệm vụ có mức độ năng lực đa
dạng để về cơ bản thì tất cả học sinh đều có thể
tiếp cận nhiệm vụ ở một mức độ nào đó và cũng
cho phép học sinh mở rộng hoặc đào sâu thêm
(Smith & Stein, 2011).
Về cách điều phối bài giảng, giáo viên trong các
lớp học đảo ngược di chuyển xung quanh học
sinh khi họ làm việc, đặt câu hỏi hoặc đưa ra
nhận xét như “Thầy/cô nhận thấy rằng nhóm của
các em có ba kết luận khác nhau. Thầy/cô sẽ
quay lại sau vài phút để xem các em đã đồng ý về
kết luận các em muốn trình bày trước lớp hay
chưa” hoặc “Em thể vẽ lên giấy ý tưởng
em vừa chia sẻ không? “hoặc “Làm thế nào
em lại quyết định chia cho 7?”. Khi giáo viên tập
hợp học sinh lại với nhau sau khi làm việc nhóm,
học sinh trình bày những phát hiện và giải pháp
của mình trước cả lớp, giáo viên đặt những câu
hỏi làm rõ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thảo
luận thêm, và cuối cùng, làm rõ mối liên hệ toán
học giữa mục tiêu của học sinh và mục tiêu toán
học của bài học.
Chúng tôi cũng thấy rằng đôi khi học sinh trong
những lớp học này chia sẻ các câu trả lời hoặc
cách tiếp cận không chính xác. Các giáo viên
đã học được rằng những cuộc thảo luận giá
trị trong lớp học có thể bắt nguồn từ những câu
trả lời sai. Jo Boaler (2015) gợi ý rằng thực ra,
chúng ta học được nhiều điều từ việc mắc lỗi hơn
là nhận được một câu trả lời đúng. Phương pháp
dạy học đảo ngược giúp cả học sinh và giáo viên
hiểu rằng sai lầm sẽ xảy ra và một khi chúng xảy
ra, cả lớp sẽ sử dụng cơ hội này để đào sâu vào
chính suy nghĩ khiến chúng ta mắc phải sai lầm,
dẫn đến hiểu biết sâu hơn về toán học. Nhờ đó,
khả năng học sinh thể sử dụng những đã
học để giải quyết các vấn đề khác trong tương lai
sẽ tăng lên.
Giờ đây, giáo viên quyền truy cập vào nhiều
27
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
video công khai thể hiện cách dạy toán này, cho
dù có được dán nhãn “đảo ngược”, “tập trung vào
vấn đề”, “tập trung vào học sinh” hay chỉ là “lớp
học toán”. Những video được mô tả ở đây mang
lại hội tuyệt vời để chúng ta chiêm nghiệm
độc lập hoặc thảo luận chuyên môn giữa các
đồng nghiệp. Khi quan sát các lớp học trong thời
gian thực hoặc phân tích video trực tuyến, các
nhà giáo dục có thể đặt những câu hỏi như:
▪ Giáo viên sử dụng vấn đề hay nhiệm vụ nào để
bắt đầu bài học?
▪ Giáo viên khuyến khích tư duy của học sinh và
kích thích khả năng diễn đạt của học sinh như
thế nào?
▪ Giáo viên đặt những loại câu hỏi nào?
▪ Bạn nhận thấy gì về vai trò của giáo viên và học
sinh?
▪ Giáo viên sắp xếp trình tự bài thuyết trình của
học sinh như thế nào?
Làm thế nào để giáo viên kết nối cuộc thảo
luận trong lớp với mục đích của bài học?
▪ Lớp học này giống hay khác với lớp học của bạn
hoặc những lớp học mà bạn đã từng tham dự như
thế nào?
Không phải tất cả các lớp học đảo ngược đều sẽ
hoàn thành bài học trong một tiết học hoặc theo
cùng một thức. Các lớp học đảo ngược hiệu
quả có sự khác biệt đáng kể về cách chúng được
tổ chức và cách chúng vận hành. Điểm chung
của chúng tập trung vào việc học sinh tham
gia suy nghĩ về một vấn đề mà các em chưa được
dạy cách giải quyết. Giáo viên tạo tiền đề cho cả
lớp, đôi khi (nhưng không phải lúc nào cũng) tạo
điều kiện cho học sinh thảo luận khi các em thu
hẹp những gì họ sẽ khám phá trong bài học. Sau
đó, học sinh thực hiện nhiệm vụ, nhân hoặc
theo nhóm, sau khi thảo luận toàn nhóm.
Khi chúng tôi phân tích những tiết học như vậy,
chúng tôi nhận thấy rằng các tiết học ấy được
điều phối bởi giáo viên, nhưng không lấy giáo
viên làm trung tâm. Trọng tâm học sinh đưa
ra ý tưởng, giải pháp, phương pháp tiếp cận
mô hình, ngay cả khi giáo viên tạo điều kiện cho
cuộc thảo luận và làm rõ các khái niệm toán học
được khám phá bởi bài làm của học sinh.
Xây dựng Lớp học trở thành một nơi an toàn để
chia sẻ
Khi chúng tôi xem xét các lớp học sử dụng cách
tiếp cận đảo ngược để giải quyết vấn đề, chúng
tôi nhận thấy các học sinh dường như khá sẵn
lòng chia sẻ suy nghĩ và ý tưởng của các em. Bất
kể các em đang học lớp nào, các em dường như
không hề lo lắng về khả năng mắc lỗi hay ý
kiến không chính xác. Các e kỳ vọng rằng lớp
toán sẽ luôn có những cuộc thảo luận cởi mở.
Sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm để chia sẻ ý tưởng
của mình không phải là chuyện dễ dàng đối với
học sinh và nó không xảy ra trong một sớm một
chiều, đặc biệt là đối với những học sinh lớp lớn,
những em đã ngần ngại phát biểu ý kiến trên lớp
học trong nhiều năm. Các giáo viên trong những
ví dụ trên đã dành thời gian tìm hiểu để tạo điều
kiện cho lớp học của họ những cuộc trò chuyện
cởi mở, tôn trọng. Họ đã làm việc với học sinh
để tạo ra các quy tắc lớp học tích cực khuyến
khích mọi học sinh tham gia các quy tắc dựa
trên sự tôn trọng và công nhận giá trị của ý kiến
của mọi người (Boaler, 2015; Chapin, O’Connor,
& Anderson, 2013; Kazemi & Hintz, 2014 ). Một
văn hóa trong đó tất cả học sinh đánh giá cao sự
đóng góp của mọi học sinh khác không chỉ thúc
đẩy việc giải quyết vấn đề còn đưa ra tuyên
bố mạnh mẽ rằng sự công bằng được coi trọng
trong các lớp học của chúng tôi.
Dạy học đảo ngược mỗi ngày?
Có thể có hoặc có thể không hợp lý khi sử dụng
loại phương pháp đảo ngược, tập trung vào vấn
đề, tập trung vào học sinh hàng ngày. Ý tưởng
chính là ưu tiên duy, lý luận và giải quyết vấn
đề của học sinh hàng ngày xây dựng lớp học
nơi những kết quả đó luôn được đánh giá cao.
28 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Một số giáo viên sử dụng phương pháp đảo
ngược hàng ngày. Những giáo viên khác thể
đưa vào bài học một nội dung không thường xuy-
ên do giáo viên hướng dẫn, hoặc trình bày một ý
tưởng hoặc quan sát toán học thú vị. Dù giáo viên
xây dựng bài học theo cách nào thì học sinh cũng
nên mong đợi rằng một khi bước vào ngưỡng cửa
lớp học toán, các em sẽ có nhiều cơ hội để nói về
suy nghĩ của mình chia sẻ về những lập luận
của mình khi các em giải những bài toán khó,
thú vị.
Tài liệu tham khảo
Boaler, J. (2015). Mathematical mindsets: Un-
leashing students’ potential through creative
math, inspiring messages and innovative teaching.
San Francisco, CA: Jossey-Bass.
Chapin, S. H., O’Connor, C., & Anderson, N. C.
(2013). Talk moves: A teacher’s guide for using
classroom discussions in math (3rd ed.). Sausali-
to, CA: Math Solutions.
Dweck, C. (2007). Mindset: The new psychology of
success. New York: Ballantine Books.
Kazemi, E., & Hintz, A. (2014). Intentional talk:
How to structure and lead productive mathemat-
ical discussions. Portland, ME: Stenhouse Pub-
lishers.
Meyer, D. (2011). The three acts of a mathemat-
ical story. Retrieved April 27, 2017, from http://
blog.mrmeyer.com/2011/the-three-acts-of-a-
mathematical-story/
National Council of Teachers of Mathematics.
(2014). Principles to actions: Ensuring mathemat-
ical success for all. Reston, VA: National Council
of Teachers of Mathematics.
Seeley, C. L. (2014). “Upside-Down Teaching”
in Smarter than we think: More messages about
math, teaching, and learning in the 21st century.
Sausalito, CA: Math Solutions.
Seeley, C. L. (2016). Making sense of math: How to
help every student become a mathematical thinker
and problem solver. Alexandria, VA: ASCD.
Smith, M. S., & Stein, M. K. (2011). 5 practices for
orchestrating mathematics discussions. Reston,
VA: National Council of Teachers of Mathemat-
ics.
29
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Meagan Gillmore | Thu Uyên dịch
Vòng quay này chính là cuộc sống
Ban đầu trông nó có vẻ thông thường – các học
sinh tham gia vào khóa học, nhưng chúng đều
đang cầm những chiếc ly rỗng trong tay đổ
nước từ 1 bình nước lớn khi kết thúc khóa học.
Nhưng đó lại là nước bẩn, chắc chắn sẽ không
thể uống được nhưng lại có thể có ích cho trong
nông nghiệp. Học sinh sẽ phải xác định làm thế
nào để có thể sử dụng nó và quyết định này cần
đưa ra nhanh chóng, những học sinh lớp 5 và 6
ở các nơi khác, có lẽ đang học về thuỷ điện hay
có thể đo độ acid trong nước.
Tất cả là một phần của Vùng H20 (H20 Zone),
một phần của Lễ hội Thế giới Năng lượng của
Trẻ em (Kids’ World of Energy Festival), điều
hành bởi TREC Education, 1 tổ chức cung cấp
giáo dục về năng lượng tái tạo. Trong khi lễ hội
này đã bắt đầu vào năm 2008, chủ đề tập trung
hoàn toàn vào nước này là mới đối với năm
2016. Các hoạt động được thiết kế để học sinh
thể tận hưởng một cách vui vẻ, nhưng
cũng không phải là mục đích chính nhất. Quãng
đường trong trò nhảy lò đại diện cho những
rào cản về chính trị kinh tế nhiều cộng
đồng phải vượt qua để tiếp cận với nguồn nước.
GIỮ CHO VIỆC GIÁO DỤC VỀ NGUỒN NƯỚC
LUÔN TƯƠI MỚI
30 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Cailin Hillier, điều phối viên tại Canadian Water
Network cho biết. Nhưng điều đó là không đúng.
Trong quá trình thuyết trình trên các lớp học, cô
thỉnh thoảng sử dụng 1 lít nước để đại diện cho
nguồn cung cấp nước trên thế giới. Sau đó, cô
ấy loại bỏ nước mà con người không thể uống,
có lẽ bởi là của đại dương, lạnh băng, hoặc
quá xa dưới lòng đất để có thể tiếp cận. Khi cô
ấy kết thúc, chỉ 1 giọt còn lại. Sự khan hiếm đó
thể khiến cho ai đó chết chìm trong tuyệt
vọng.
Có lẽ sự hiệu quả của H20 Zone hay các lễ hội
về nước khác chính cách họ biến 1 chủ
đề thường bị vùi trong ngôn từ khoa học hay
trong các hội thoại về ngày tận thế trở nên thú
vị. Hillier coi sự tham gia lễ hội té nước của trẻ
em trong trường tiểu học như 1 điều đó đã
Khi chúng tới đích, chúng lại thấy rằng nước này
không uống được.
Sự khan hiếm nguồn nước là 1 điều mà các học
sinh hầu như sẽ không phải trải qua. Sau tất cả
thì, chúng tham gia đang học ở Toronto, 1 thành
phố nơi các con sông trong 5 lưu vực khác
nhau chảy vào hồ Ontario. Chúng đang chơi
tại Evergreen Brick Works - 1 nhà máy gạch cũ
đã được chuyển thành trung tâm giáo dục môi
trường cộng đồng. Đối với trẻ em trong 1 số
cộng đồng, thậm chí là ở Canada, trò chơi này
chính là thực tế đối với chúng. Sự chênh lệch là
1 trong nhiều chủ đề có phần u ám hơn trong sự
giáo dục về nguồn nước.
Khi các học sinh nhìn vào địa cầu thấy
màu xanh, vẻ như chứa rất nhiều nước”,
31
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
khởi dậy sự thích thú của cô ấy với chủ đề này.
Các lễ hội như vậy có diễn ra trong nhiều vùng
nhưng không có ở Toronto. Patti Birk – là 1 giáo
viên tiểu học tại trường tiểu học Công giáo St.
Joseph Acton, Ontario, đã đưa lớp học của
ấy đến lễ hội nước của trẻ em Halton
khoảng 3 năm trước. Xấp xỉ 4000 học sinh ở lớp
2 - 5 tham gia vào lễ hội mỗi tháng 9. Các học
sinh thể chưa hình thành sự gắn kết trong
lớp học nhưng việc lập kế hoạch cho 1 bài giảng
tiếp theo thì không khó, Birk nói. Các học sinh
luôn luôn hoàn toàn thích thú khi bài giảng kết
thúc. Có rất nhiều điều để thảo luận như: những
cái kính hiển vi cho phép chúng khám phá về
nước theo những cách không thể có tại trường,
những chú chim chúng được nhìn cự ly
gần, những trò chơi tiên phong chúng chơi để
xem nguồn nước đã được sử dụng như thế nào
trong lịch sử, hay trò chơi được ưa thích nhất
theo trải nghiệm của Birk, là cuộc đua vịt cao su
để nhắc nhở chúng về vận tốc. Lễ hội cho phép
các học sinh được nhìn nhận về nước dưới
nhiều lăng kính khác nhau”, Birk nói.
Trong giáo dục về môi trường, nhìn thể
điều quan trọng nhất.
Tôi nghĩ điều duy nhất thực sự hiệu quả
liên tục đưa (học sinh) ra ngoài (để tiếp cận trực
tiếp)”, Mike Klassen, hiệu trưởng Học viện Riv-
ers Collegiate ở Rivers, Manitoba, 1 trường trung
học ưu tiên về giáo dục môi trường. Những gì
chúng tôi cố gắng làm ngôi trường này để
hướng tới phát triển một cảm giác về nơi chốn,
một cảm giác được thuộc về. Khi bạn có thể
mang tới điều đó cho trẻ em ở môi trường thiên
nhiên, chúng sẽ bắt đầu quan tâm… Chúng s
học cách yêu thương nó, và sau đó là quan tâm,
sau đó bảo vệ không cảm thấy tội
lỗi.
Đúng vậy, những học sinh của anh ấy thể
có 1 số lợi thế – bên cạnh việc có số lượng học
sinh nhỏ với 150 học sinh - có thể giúp cho việc
toàn trường thể cùng tham gia trở nên dễ
dàng hơn. Trường duy trì vùng đất ngập nước
cho riêng mình, đó là The Rivers Wetland of Ex-
cellence, cách trường vài bước chân. Đó 1
dự án khai hoang: địa điểm này đã từng một
đường sắt, khi ngừng sử dụng, nó được phá bỏ
và trở thành 1 đầm lầy. Vùng đất ngập nước bây
giờ đã được 3 năm. Ban đầu ngôi trường có kế
hoạch 5 năm cho địa điểm này, nhưng Klassen
nói rằng dự án có khả năng sẽ kéo dài lâu hơn.
Cho tới giờ, nó vẫn đang sống đúng với cái
tên của mình vùng đất ngập nước ngày nay
đã thắng giải Bảo tồn Thanh niên từ Liên đoàn
Động vật Hoang dã Canada. Lợi ích nó đem lại
là vô kể, không chỉ đối với nguồn nước, thực vật
động vật, còn cho trường học cộng
đồng. Vùng đất ngập nước vừa một lớp học
vừa là một phòng thí nghiệm, các học sinh lớp
sinh học lấy mẫu nước và tạo các danh sách về
các loại thực vật những loài động vật, các
học sinh lớp chế biến gỗ thì tạo các bến tàu và
lồng chim gỗ. Trường đã tạo ra những chương
trình học dựa trên vùng đất ngập nước này, như
là khóa Quản các vùng đất ngập nước, khoá
này đã được khu vực đó công nhận. Các học
sinh cũng tổ chức những chuyến tham quan phù
hợp với chương trình giảng dạy cho các lớp tiểu
học trong địa phương. Vùng đất ngập nước
1 phần của công viên lớn mà còn bao gồm một
sân đá bóng và thị trấn đang nghĩ đến việc biến
nó thành 1 phần của chiến lược du lịch sinh thái,
Klassen chia sẻ.
Hầu hết các trường học không có khả năng tạo
ra một vùng đất ngập nước, nhưng những học
sinh vẫn nên biết nơi nguồn nước chúng uống
sử dụng đến từ đâu làm thế nào để lấy
được chúng. Nhiều người không hiểu rằng các
hệ thống nước khác nhau được kết nối với nhau
như thế nào, Hillier nói. Nhưng ngay cả học sinh
cũng thể có những cuộc trò chuyện nghiêm
túc về chủ đề này. Cô ấy đã từng giải thích các
32 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
cách xử nước như thế nào với học sinh khối
lớp 1 ở một thị trấn phụ thuộc vào nước ngầm.
ấy kể cho chúng nghe về các giếng nước,
và làm thế nào clo được sử dụng để tiêu diệt vi
khuẩn trong nguồn nước. Một học sinh hỏi rằng
làm thế nào mà mọi người biết clo đã “thắng” lũ
vi khuẩn. Hillier sau đó giải thích về clo dư– tức
là nếu còn một ít clo trong nước, nó có nghĩa
clo đã thắng. Thật sự một câu hỏi rất ngẫu
nhiên”, cô ấy nhớ lại.
Các giáo viên nên khai thác sự của học
sinh – rất nhiều phương thức phong phú để
khuyến khích giáo dục về nguồn nước bảo
tồn trong trường học. Nhiều học sinh đã cảm
thấy nó rất thú vị và điều này áp dụng cho nhiều
môn học khác. “Học sinh hiểu rằng chúng
trách nhiệm với thế giới xung quanh chúng”, Birk
- giáo viên tại EcoSchool cho biết. (Nằm ở On-
tario, EcoSchool là những trường được đăng ký
chính thức với chương trình Ontario EcoSchool
với mục tiêu giúp giáo dục các trường học về
làm thế nào để các thực hành môi trường
bền vững làm sao để theo dõi tiến trình của
chúng). (Học sinh) hiểu rằng (môi trường là)
một phần tương lai của chúng, và chúng kết
nối với ”. Điều đó thể được nhìn thấy
những điều nhỏ nhất. Birk nhớ lại một khoảnh
khắc trong giờ ăn trưa khi các học sinh nháo
nhác yêu cầuấy gỡ một chiếc túi nilon bị mắc
kẹt ra khỏi cái cây. Chúng lo ngại cái túi sẽ làm ô
nhiễm nguồn nước gần đó, Birk kể lại.
Nuôi dưỡng ý thức quan tâm tới nguồn nước có
thể khuyến khích một điều nghe chừng là phản
trực quan: dùng nước máy. Nước máy được
quản chặt chẽ hơn nước đóng chai, Hillier giải
thích, điều này nghĩa an toàn hơn để
uống. cũng rẻ hơn. Nhưng thường thì mọi
người thích uống nước đóng chai hơn, mặc
đến từ những chai nhựa dùng một lần với
tương lai chắc chắn sẽ là nằm trong bãi rác.
Nhiều trường học đang chống lại xu hướng này
bằng cách thay thế những vòi nước bằng sứ với
các khu để chai nước nhựa, khuyến khích
học sinh uống từ những chai nhựa có thể tái sử
dụng.
Đôi khi, việc tiết kiệm nước đưa giáo viên tới
những địa điểm họ không ngờ tới. Shannon
Boyle vốn đã yêu nước ttrước tới nay, và
một niềm đam ấy mang đến cho học
sinh mỗi tuần với tư cách là giáo viên phụ trách
của câu lạc bộ Water Warriors, câu lạc bộ
dành riêng cho giáo dục trường học của họ về
bảo vệ tài nguyên nước. ấy dạy môn khoa
học xã hội tại trường St. Michael, 1 trường tiểu
học ở Calgary, vì vậy cô ấy ý thức được những
vấn đề toàn cầu. Khoảng thời gian đào tạo các
giáo viên ở Ghana đã choấy trải nghiệm việc
sống chung với sự khan hiếm nước.
Nhưng một năm, học sinh của ấy dẫn
đến một nơi không thân quen với cô ấy: phòng v
sinh nam. Chỉ có các nam sinh tham gia vào câu
lạc bộ vào năm đó, và chúng quyết định trang b
thêm cho bồn tiểu cảm biến chuyển động. Trước
đây, nước sẽ chảy trong bồn mỗi 20 phút. Lắp
đặt những cảm biến đó có nghĩa rằng nước chỉ
chảy khi được kích hoạt. “Tôi chưa bao giờ nghĩ
tới bồn tiểu”, Boyle thừa nhận. Boyle hoàn toàn
ý thức về cách ấy muốn học sinh của
ấy nghĩ về nước. Nhiều người muốn giảng
dạy về giáo dục môi trường, nhưng họ sử dụng
cách tiếp cận sai lầm”, cô nói. “Họ sử dụng tiếp
cận vấn đề”. Thật không công bằng khi đặt gánh
nặng ô nhiễm và biến đổi khí hậu đến trẻ,
Boyle nói. Thay vì vậy, giáo viên cần cho chúng
xem cách tìm ra giải pháp trước những vấn đề
choáng ngợp ấy.
Điều đó không nghĩa ta phải tránh sự
đấu tranh và nỗi đau. Trong suốt 2 năm vừa rồi,
Boyle đã sử dụng Water Walk để giúp học sinh
hiểu được khoảng cách một số người phải di
chuyển để có thể lấy được nước. Khi thực hiện
33
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Water Walk, học sinh mang theo các bình sữa 4
lít và đi bộ 30 phút từ trường học đến sông Bow.
Lũ trẻ đổ nước đầy vào các bình và sau đó quay
về trường. Quãng đường trở lại khá là khó khăn.
Một số thì than thở”, Boyle nói, và tôi thích việc
chúng than phiền bởi điều này nghĩa chúng
nhận ra rằng đây1 bài tập. Nó không phải là
1 chuyến đi chơi, là 1 sự kiện vui nhộn hay một
chuyến dã ngoại ngắn. Nó là một bài tập để lấy
nước.” Đây là một bài tập khó khăn để tạo ra cơ
hội cho sự trưởng thành. Học sinh mang những
bình nước của chúng đổ đầy thùng chứa nước
mưa - cái mà học sinh tiểu học dùng để tưới cây.
Mọi người đều được tham gia. Điều này rất quan
trọng, bởi bản thân học sinh có giá trị nhiều hơn
là nguồn nước mà chúng đang bảo vệ.
(Trẻ em là) những tâm hồn đi lạc”, Klassen nói.
Chúng không biết định hướng của chúng là gì.
Nếu chúng một sự kết nối, ít nhất đối với
môi trường, chúng sẽ thứ đó để kết nối,
một nơi nào đó mà chúng có thể quay trở lại để
dựa vào… Nếu chúng ta có thể khiến trẻ em yêu
thích cộng đồng của chúng hoặc khiến chúng
yêu thích môi trường địa phương, chúng ta
sẽ thấy một sự thay đổi ở thế giới của chúng ta
trong tương lai.
34 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
8 chiến lược nhằm cải thiện sự tham gia
trong lớp học trực tuyến
1Emelina Minero | Ngọc Lan dịch
Các nhà giáo dục chia sẻ các chiến lược đồng bộ và không đồng bộ tốt nhất của họ để thúc đẩy sự tham
gia của học sinh trong quá trình học trực tuyến.
35
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Trong mỗi lớp học, những học sinh luôn giơ
tay để tham gia những học sinh còn chần
chừ nhập cuộc. Cho dù chúng là người hướng
nội, có xu hướng suy nghĩ một lúc trước khi đóng
góp, hay chỉ là đang trải qua một ngày tồi tệ, thật
khó thể đưa những đứa trẻ vào những cuộc
thảo luận mà chúng miễn cưỡng phải nói.
Những thách thức trong việc thu hút học sinh
tham gia ngày càng gia tăng trong quá trình học
tập từ xa, đó ý kiến của nhiều giáo viên mà
chúng tôi đã trò chuyện. Các nền tảng kỹ thuật
số thể tạo thêm rào cản giao tiếp, dụ như
khó thể biết khi nào nên lên tiếng hoặc làm
thế nào để đọc được những chi tiết nhỏ nhưng
không kém quan trọng của màn thuyết trình như
ngôn ngữ thể và nét mặt của một người. Ngoài
ra, các cuộc thảo luận trực tuyến thường bị cản
trở bởi sự không đồng đều trong khả năng tiếp
cận công nghệ của học sinh và bởi những lo ngại
về quyền riêng tư, và kết quả nhiều giáo viên
đã phải cho phép học sinh gửi bài qua các kênh
riêng lẻ như email, điều này có thể tạo ra tương
tác hai chiều ngoài luồng giữa học sinh với nhau
(và giữa học sinh và giáo viên).
Hóa ra để trẻ em đóng góp vào các lớp học ảo
một công việc không dễ dàng. Chúng tôi vẫn
gọi thế hệ này là thế hệ công nghệ số bản địa như
thể họ chỉ đơn giản là những kẻ điên cuồng với mọi
thứ được máy tính hóa. Họ không như vậy”. Tim
O’Brien đã viết trên Facebook. “Họ cần hỗ trợ cá
nhân, những bước đệm gợi ý (scaffolding) và sự yên
tâm mà công nghệ không thể cung cấp. Nó chỉ đơn
giản là một công cụ, không phải là một giáo viên.
Để tìm cách cải thiện các cuộc thảo luận của
học sinh sự tham gia vào học tập trực tuyến,
chúng tôi đã chọn lọc qua hàng trăm bình luận
trên mạng xã hội và theo dõi hơn 20 nhà giáo dục
để xem họ đã giải quyết thử thách này như thế
nào vào mùa xuân năm ngoái. Các giáo viên đã
đưa ra một loạt các chiến lược thông minh, cả
đồng bộ và không đồng bộ, vào các lớp học mùa
thu này để hòa hợp các giá trị và ý kiến của tất cả
học sinh - ngay cả những trẻ trầm tính nhất hoặc
những trẻ có lịch học bị gián đoạn.
CHIẾN LƯỢC ĐỒNG BỘ
Đối với việc học đồng bộ, một số giáo viên cho
biết họ đã chuyển từ các phương pháp thảo luận
truyền thống trong lớp học sang trò chuyện
video trực tiếp, trong khi những giáo viên khác
nhận thấy rằng các công cụ kỹ thuật số giúp tăng
cường sự tham gia lớp học.
1. Thảo luận kiểu mạng nhện: Trong quá trình
học tập từ xa vào mùa xuân này, học sinh trong
lớp trung học của Shai Klima đã dẫn dắt các
cuộc thảo luận của riêng mình qua Google Meet.
Trước khi diễn ra lớp học trực tiếp, học sinh phải
tự trả lời các câu hỏi, sau đó chia sẻ câu trả lời
của mình khi bắt đầu buổi học như một điểm
khởi đầu cho một cuộc thảo luận rộng rãi hơn
trong lớp.
Trong khi học sinh trò chuyện trên video, Klima
đã lắng nghe và vẽ các đường thẳng trên một
tờ giấy theo dõi dòng tương tác trong cuộc trò
chuyện, kết quả nhận được một mạng lưới.
Vào cuối cuộc thảo luận, Klima chia sẻ bức vẽ
qua video, sau đó yêu cầu học sinh phản hồi về
kinh nghiệm và những gì các em học được về
người nói chuyện, người lắng nghe người xây
dựng dựa trên ý tưởng của người khác.
Klima đã chia sẻ: “Đó là một thành công trong
việc giúp học sinh xây dựng mối quan hệ và giúp đỡ
nhau đưa ra những ý tưởng mới.”
2. Sử dụng tính năng trò chuyện (chat) để kiểm
tra mức độ hiểu: Sau khi giảng bài vào mùa xuân
năm ngoái, Paul France đã cho các học sinh lớp
ba của mình sử dụng tính năng trò chuyện của
Google để hỏi trả lời các câu hỏi hoặc chọn
biểu tượng cảm xúc, dụ như biểu tượng ngón
36 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
trỏ giơ lên hoặc xuống, để thể hiện chúng có hiểu
một khái niệm hay không. Để tạo khuôn khổ cho
các câu trả lời, anh đã hướng dẫn học sinh của
mình đưa ra các quy tắc xoay quanh việc sử dụng
tính năng trò chuyện - ví dụ, chúng quyết định là
một nhóm chỉ sử dụng một biểu tượng cảm xúc
tại một thời điểm. France cho biết việc thực hành
đã giúp anh kiểm tra mức độ hiểu bài của học
sinh và thúc đẩy chúng gắn kết nhiều hơn vào nội
dung bài học.
Trong khi đó, giáo viên mầm non Ruth Calkins đã
sử dụng tính năng trò chuyện Zoom khi tổ chức
các buổi học trực tiếp với học sinh mẫu giáo của
mình. Cô nói rằng bọn trẻ thích “T” (true) hoặc
“F” (false) cho các câu hỏi đúng và sai khi trả lời
các câu đố toán học trong bảng trò chuyện,
thậm chí có một số em còn cố gắng viết cả câu
trả lời để đáp lại câu hỏi của cô. Đánh máy để
phản hồi cũng rèn luyện rất nhiều kỹ năng thực
hành bàn phím cho các học sinh nhỏ tuổi.
3. Đảo ngược lớp học để kích thích cuộc thảo
luận sâu hơn: Forrest Hinton, một giáo viên toán
trung học, cho biết anh đã nhận thấy rằng sự kết
hợp giữa hướng dẫn đồng bộ không đồng bộ
có tác dụng tốt để kích thích học sinh thảo luận
trong quá trình học từ xa.
Đầu tiên, anh dạy nội dung mới thông qua các
video được ghi lại các hoạt động trực tuyến.
Khi bắt đầu lớp học trực tiếp, các học sinh đã
cùng nhau tóm tắt ngắn gọn các khái niệm đã
học sau đó chia thành các nhóm nhỏ để giải
quyết các vấn đề liên quan. Việc đảo ngược lớp
học cho phép Hinton tốn ít thời gian giảng dạy
trực tiếp hơn - và việc lắng nghe học sinh ngay từ
đầu tiết học trong các nhóm nhỏ đã giúp anh xác
định, và sau đó giải quyết được chỗ mà học sinh
của mình còn gặp khó khăn. “Điều này cho phép
tôi làm các khái niệm một cách mục tiêu
hơn và hỗ trợ được học sinh tốt hơn,” Hinton nói.
4. Điều chỉnh phương pháp suy nghĩ-bắt cặp-
chia sẻ (think-pair-share) trong Zoom: Ryan
Tahmaseb, giám đốc dịch vụ thư viện, cho biết
ông nhận thấy rằng việc cung cấp nhiều hoạt
động học tập dự án hơn cho học sinh tiểu học và
trung học cơ sở của mình và cho phép chúng tự
chủ hơn trong các bài tập, dễ dàng khuyến khích
các cuộc thảo luận phong phú hơn trong lớp học
thực tế. Tahmaseb nói: “Nếu chúng tôi cho học
sinh càng nhiều tự do càng tốt để thử nghiệm, ng-
hiên cứu theo đuổi sở thích trong phạm vi nội
dung chúng tôi đưa ra, thì bọn trẻ chắc chắn
nhiều điều để nói hơn.”
Khi nói đến các cuộc thảo luận trong lớp, Tah-
maseb đã điều chỉnh phương pháp suy nghĩ-bắt
cặp-chia sẻ trong Zoom. Học sinh được nhắc
nhở, chia thành các nhóm sau đó được đưa
vào các phòng riêng để thảo luận và ghi lại câu
trả lời của chúng trên một le Google tài liệu
đã được chia sẻ, nơi cho phép học sinh chia sẻ
suy nghĩ của mình bằng cách viết hoặc đọc to. Vì
Tahmaseb không có mặt ở mỗi phòng thảo luận
để lắng nghe các cuộc trò chuyện, nên Google
tài liệu đã làm cho học sinh có trách nhiệm hơn.
Khi tất cả học sinh quay lại lớp chung, các tình
nguyện viên từ mỗi nhóm chia sẻ câu trả lời của
chúng với mọi người.
5. Một bước ngoặt mới về trình bày chia sẻ:
Để học sinh thoải mái khi tham gia trực tuyến,
Brittany Collins, điều phối viên dạy và học tại
Write the World, một cộng đồng viết văn trực
tuyến toàn cầu dành cho học sinh trung học
sở trung học phổ thông, đã chuyển đổi hoạt
động trình bày và chia sẻ quen thuộc thành suy
nghĩ, viết, chia sẻ”.
Trong một hoạt động, Collins đã yêu cầu các học
sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông tìm
một bức ảnh, bức tranh hoặc bản vẽ thể hiện sự
kết nối giữa các thế hệ tự viết ra câu trả lời
cho các câu hỏi sau lấy từ cuốn sách Khung Hiển
37
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Thị Tư Duy trước khi thảo luận về chúng qua vid-
eo với cả lớp: Chúng ta đang xem gì? Điều gì kh-
iến bạn nói như vậy? Bạn chú ý đến điều gì (nhìn
thấy, cảm thấy, biết)? Chúng ta có thể khám phá
thêm điều gì? Bạn thấy ngạc nhiên về điều gì?
Collins nói: “Điều này giúp phá vỡ lớp băng trong
một môi trường học tập trực tuyến, nơi mà sự
tham gia học tập không kế hoạch thể
thách thức đối với một số học sinh”.
CHIẾN LƯỢC KHÔNG ĐỒNG BỘ
Mặc một số giáo viên và học sinh nói rằng
các cuộc thảo luận đồng bộ thu hút hơn vì chúng
giống với một lớp học truyền thống, nhưng nhiều
nhà giáo dục nhận thấy rằng các cuộc thảo luận
không đồng bộ sẽ công bằng hơn vì chúng không
hạn chế sự tham gia của những học sinh có băng
thông thấp, những người bị giới hạn về thời gian
biểu hoặc những người không thoải mái tương
tác với toàn bộ lớp học.
6. Diễn đàn trực tuyến tạo ra đối thoại qua lại:
Angelina Murphy, một giáo viên tiếng Anh trung
học, cho biết cô đã sử dụng tính năng câu hỏi của
Google lớp học để yêu cầu học sinh trả lời các bài
đọc và lời nhắc thảo luận trong quá trình học từ
xa vào mùa xuân vừa qua. Khi mỗi học sinh nhận
xét, Murphy phản hồi bằng các câu hỏi làm
sáng tỏ vấn đề để tạo ra một cuộc đối thoại qua
lại và cũng yêu cầu mỗi học sinh phản hồi ít nhất
hai nhận xét của bạn mình nhằm tạo cơ sở thảo
luận rộng hơn.
Giáo viên lớp 5 Raquel Linares cho biết cô đã sử
dụng ứng dụng Nearpod Collaborate (trên Ap-
ple, Android), một bảng cộng tác ảo, để yêu cầu
học sinh chia sẻ hình ảnh hoặc viết phản hồi để
thể hiện những gì chúng đã học được về một bài
báo mà chúng đọc. Để tạo tính kết nối và sự suy
ngẫm giữa các bạn cùng lớp, Linares cũng đã sử
dụng ứng dụng Flipgrid (trên Apple, Android), để
học sinh có thể nghe thấy giọng nói của bạn
ngay cả khi chúng đang ở cách xa nhau.
7. Xem và phê bình sản phẩm của bạn bè thông
qua các cuộc đi dạo trong phòng trưng bày ảo:
Theo Joe Marangell, một giáo viên xã hội học
trung học, “các cuộc đi bộ trong phòng trưng bày
ảo cho học sinh cơ hội xem các dự án của các bạn
cùng lớp để học hỏi lẫn nhau. Sau khi các học
sinh của anh trình bày các dự án của riêng chúng
thông qua các đoạn phim dài 5 phút, chúng được
yêu cầu đưa ra phản hồi cho ít nhất hai học sinh
khác về dự án của bọn trẻ.
Sử dụng Google Trang tính, học sinh đã đưa ra
nhận xét cho bạn bè của chúng bằng cách trả lời
các lời nhắc sau: Tôi học được điều gì mới về chủ
đề này?; Điều làm tôi ngạc nhiên về chủ đề
này?; Tôi thích điều gì ở bài thuyết trình này? Ma-
rangell cho biết, định dạng trực tuyến đã mang
lại cho mọi học sinh cơ hội xem bài làm của bạn
đánh giá của bạn về bài của chúng để
suy ngẫm một cách sâu sắc hơn.
8. Trạm di chuyển động não trực tuyến: Khi các
hoạt động động não theo băng chuyền hoặc theo
trạm được thực hiện trong môi trường lớp học
truyền thống, các nhóm nhỏ học sinh sẽ xoay
vòng quanh phòng đến các trạm khác nhau để
trả lời các yêu cầu cũng như xem thêm vào
câu trả lời của mỗi nhóm trước đó.
Để chuyển hoạt động này sang trực tuyến, Ma-
rangell đã chia học sinh của mình thành các
nhóm trực tuyến và tạo các tài liệu được chia sẻ
chung trên Google-hoặc một loạt các trang trình
chiếu của Google-cho các yêu cầu/câu hỏi. Mỗi
nhóm để lại suy nghĩ của chúng dưới các câu hỏi
theo ngày được chỉ định và sau đó theo dõi bằng
cách nhận xét câu trả lời của các nhóm khác vào
ngày hôm sau. Marangell nói: “Chiến lược này
vẫn cho phép chúng duy trì được cảm giác ở trong
một tập thể lớp học [trong bối cảnh lớp học ảo]”.
38 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 27 - 2020
Lợi ích lâu dài của Giáo dục Mầm non
1 Usable Knowledge | Hà Thanh Mai dịch
Một nghiên cứu kết nối giữa cải cách chất lượng
giáo dục mầm non với kết quả học tập của trẻ
mầm non và học sinh cấp ba.
Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về tác động lâu
dài của giáo dục mầm non nhiều năm nay. Đã
có một số nghiên cứu tìm ra được lợi ích lâu dài,
một số khác cho rằng những trẻ đạt được
thiên hướng mất đi khá sớm. Kể cả khi người ta
tìm ra những lợi ích lâu dài, các nhà nghiên cứu
vẫn chưa khám phá được nhiều về tác động của
những lợi ích đó - những biến số nào sẽ để lại tác
động lâu dài những biến số nào sẽ sớm mất
đi.
Theo một nghiên cứu dài hạn mới được công
bố trên tạp chí Child Development (Sự phát triển
của trẻ nhỏ), các nhà nghiên cứu tại Trường Sau
đại học về Giáo dục Harvard (Harvard Gradu-
ate School of Education - HGSE) đã có tiến triển
1 Nguồn: https://www.gse.harvard.edu/news/
uk/19/08/lasting-gains-preschool
đáng kể trong việc xác định được mục tiêu nói
trên. Nghiên cứu này kết nối giữa kiến thức và kỹ
năng điều chỉnh hành vi trẻ học được trường
mầm non trong những năm đầu đời với điểm
số của những năm sau đó ở trường trung học
phổ thông (THPT). Nhìn chung, các nghiên cứu
cho thấy rằng việc hỗ trợ giáo viên mầm non
những nơi có thu nhập thấp có thể mang lại tác
động tích cực kéo dài tới khi trẻ học cấp ba.
Các giáo viên mầm non được tập
huấn đã giúp học sinh xây dựng
được kỹ năng học tập từ sớm - sự
can thiệp này có hiệu quả kéo dài
đến tận trung học phổ thông.
Nghiên cứu đã xem xét cụ thể một chương trình
bồi dưỡng mầm non: Dự án Sẵn sàng cho Trường
học Chicago (Chicago School Readiness Program
- CSRP). Đây là chương trình phát triển nghề
nghiệp tập huấn dành cho giáo viên đã được
thực hiện tại 35 trung tâm Head Start ở Chicago
vào năm 2004 và 2005. CSRP tập trung vào việc
cải thiện kỹ năng quản lớp học giảm căng
39
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 27 - 2020
Cải tổ giáo dục
thẳng nghề nghiệp cho giáo viên nhằm gián tiếp
cải thiện kết quả học tập của học sinh. Chương
trình đã là minh chứng cho việc nâng cao điểm
số của những học sinh tham gia CSRP khi các
em học THPT.
Nghiên cứu hiện tại bởi Trợ lý giáo sư Dana
Charles McCoy Giáo sư Stephanie Jones của
HGSE, cùng với Nghiên cứu sinh Tiến sĩ Katie
Gonzalez, cho thấy rằng điểm THPT của học sinh
cao một phần là nhờ từ vựng và kỹ năng toán các
em đạt được từ nhỏ. Nghiên cứu cũng cho thấy
một số tác động đến các kỹ năng liên quan đến
chức năng điều hành2 của học sinh cấp THPT -
bao gồm các kỹ năng nhận thức trong việc kiểm
soát xung động và sự chú ý. Những tác động này
còn hồ hơn, nhưng những phát hiện từ ng-
hiên cứu cho thấy rằng việc phát triển kỹ năng
toán học sớm, nhờ vào chương trình bồi dưỡng
mầm non, có thể mang đến những lợi ích lâu dài
trong các kỹ năng điều hành.
McCoy nói rằng: Kết quả của nghiên cứu chỉ ra
những tác động bền vững của các biện pháp nhằm
nâng cao chất lượng cho chương trình giáo dục
mầm non hiện có. Trong bối cảnh khó khăn, nỗ lực
cải thiện hạnh phúc của giáo viên mầm non kỹ
năng quản lý lớp học xuất hiện ở đây để mang lại lợi
ích lâu dài cho kết quả học tập của trẻ, ngay cả khi
không có hỗ trợ thêm cho việc giảng dạy.
Kết quả của nghiên cứu chỉ ra
những tác động bền vững của
các biện pháp nhằm nâng cao
chất lượng cho chương trình giáo
dục mầm non hiện .” - Dana
Charles McCoy.
Các nhà nghiên cứu cho biết mối liên hệ giữa các
kỹ năng toán học lúc nhỏ kỹ năng điều hành
về sau từng được đề xuất trong một số lượng
nhỏ các nghiên cứu - hiện ngày càng tăng về số
lượng. Nhưng chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu
thêm để hiểu mối quan hệ giữa các yếu tố này.
2 Chức năng điều hành [Executive functioning]: là
một tập hợp các kỹ năng thuộc tinh thần [mental] bao gồm
trí nhớ ngắn hạn [working memory], suy nghĩ linh hoạt và tự
chủ [self-control].
Các tác giả cũng lưu ý rằng nghiên cứu này chỉ
xem xét một loại chương trình cụ thể, dành cho
một nhóm nhỏ học sinh. thế, các nhà nghiên
cứu khác sẽ cần tái lập những kết quả này trong
các bối cảnh và loại chương trình đa dạng hơn.
Nghiên cứu này bổ sung thêm bằng chứng về
tác động lâu dài của nhiều nỗ lực nhằm cải thiện
chương trình giáo dục mầm non. Hiệu quả của
chương trình được chứng tỏ sau hơn một thập kỷ
cùng với những lợi ích của việc xây dựng kỹ năng
tương đối đơn giản trong những năm đầu đời đó.
Và loại kiến thức này là chìa khóa quan trọng,
không chỉ giúp cung cấp thông tin cho các cuộc
tranh luận về “sự tàn lụi” ở trường mầm non, mà
còn giúp nâng cao chất lượng trường mầm non
cho số lượng trẻ em ngày càng tăng.
Đồng tác giả Jones cho biết: “Với sự gia tăng gần
đây trong việc tham gia học mầm non do được tiểu
bang và liên bang tài trợ, điều quan trọng là chúng
ta phải hiểu cả tác động ngắn hạn dài hạn của
các biện pháp can thiệp sớm, cũng như các kỹ năng
có thể gây ra những tác động này.”
TÓM TẮT
● Một chương trình bồi dưỡng giáo dục
mầm non đã giúp học sinh được điểm
cao hơn khi học THPT, một thập kỷ sau
đó. Chương trình này tập trung vào việc
hỗ trợ sức khỏe của giáo viên kỹ năng
quản lý lớp học ở các trường mầm non có
thu nhập thấp.
● Một nghiên cứu mới tìm thấy bằng chứng
cho thấy tác động của chương trình nâng
cao vốn từ vựng và kỹ năng toán trẻ mầm
non đã góp phần tạo nên kết quả học tập ở
các lớp THPT.
● Các tác động của chương trình đối với các
kỹ năng toán cũng thể một số liên
quan đến các kỹ năng điều chỉnh hành vi
lâu dài ở trường trung học.
● Nghiên cứu nhấn mạnh tác động sâu rộng
của việc nâng cao chất lượng cho chương
trình mầm non hiện nay.
40 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 27 - 2020
Cải tổ giáo dục
[30+ Frameworks Giáo dục] - Kỳ
10 - Khung MESH về Tư duy, Các Kỹ
năng và Thói quen thiết yếu
Việt Anh
MESH là chữ viết tắt của Mindsets, Essential
Skills, and Habits
Phát triển bởi: Tổ chức phi lợi nhuận Transform-
ing Education1 hợp tác với các hạt trung tâm của
bang California, Hoa Kỳ.
Mục đích:
Để giúp các nhà giáo dục, các nhà hoạch định
chính sách phụ huynh hiểu và đánh giá điểm
mạnh của học sinh xác định các lĩnh vực cần
1 Transforming Education: là một tổ chức
phi lợi nhuận hỗ trợ các nhà giáo dục trang bị cho
học sinh các kỹ năng xã hội-tình cảm. Xem thêm
tại: https://www.transformingeducation.org/
cải thiện; để hỗ trợ cải thiện việc giảng dạy, xây
dựng chương trình, cải tiến trường học
Độ tuổi: K-12
Áp dụng: Được các hạt Trung tâm của California
(Fresno, Garden Grove, Long Beach, Los Ange-
les, Oakland, Sacramento, San Francisco, Santa
Ana) sử dụng để đánh giá năng lực tình cảm-xã
hội của học sinh như một phần của cải tiến hệ
thống.
Bối cảnh:
- Một nhóm 9 trường học khu của các hạt trung
tâm tại California đang nỗ lực tìm ra một phương
cách nhằm đưa các giá trị cảm xúc-xã hội của
học sinh trở thành một trong các chỉ số phát
41
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 27 - 2020
Cải tổ giáo dục
triển, cũng như là một yếu tố trong hệ thống giải
trình trách nhiệm nhà trường.
- Khung đo tập trung vào các tư duy và năng lực
nội tâm, năng lực hướng ngoại quan trọng cho
sự thành công lâu dài. Các năng lực và tư duy này
có thể đo lường được và có thể đưa vào giảng dạy
trong nhà trường.
- Mặc dù 4 năng lực trong khung không phải
các năng lực toàn diện nhưng chúng vẫn được
chọn làm điểm khởi đầu chúng đều dựa trên
nền tảng nghiên cứu và phù hợp với các ưu tiên
của địa phương.
Ảnh:
Công cụ đo (Xem tài liệu tham khảo số 1):
- Với học sinh lớp 5-12, có hai phương thức
Khảo sát học sinh: đo được tất cả các
năng lực MESH
Khảo sát giáo viên: đo được hai năng lực
có thể quan sát từ bên ngoài (quản lý bản
thân và nhận thức xã hội)
- Các cách thức tiến hành khảo sát và những câu
hỏi thường gặp trong quá trình khảo sát (khi nào,
tại sao cách sử,.. ) cách diễn giải kết quả
khảo sát.
Tài liệu tham khảo:
1. Transforming Education. (April 2016). Measur-
ing MESH: Student and teacher surveys curated
for the CORE Districts. Retrieved from: https://
www.transformingeducation.org/wp-content/
uploads/2017/04/160406_MeasuringMESH_
ForRelease2.pdf
2. Transforming Education. (Dec 2015). Ready
to be counted: The research case for education
policy action on non-cognitive skills. Gabrieli,
C., Ansel, D. & Bartolino Krachman, S. Retrieved
from: https://www.transformingeducation.org/
wp-content/uploads/2017/04/ReadytoBeCount-
ed_Release.pdf
3. Transforming Education. (April 2017). Introduc-
tion to social and emotional learning. LaRocca,
R. Retrieved from: https://www.transforminged-
ucation.org/wp-content/uploads/2017/04/Intro-
duction_to_SEL_4Competencies.pdf
4. Transforming Education. (Sept 2016). Expand-
ing the denition of student success: A case
study of the CORE Districts. Bartolino Krach-
man, S., Arnold, R. & LaRocca, R. Retrieved
from: https://www.transformingeducation.org/
wp-content/uploads/2017/04/TransformingEd-
ucationCaseStudyFINAL1.pdf
#EdLab
#moingay1frameworkGiaoduc #LearnToLearn
#CultivatingEducationalPractices
42 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 27 - 2020
Cải tổ giáo dục
GIÁO DỤC ĐẦU ĐỜI CHO TRẺ
ĐA NGÔN NGỮ
43
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 27 - 2020
Góc nhìn
1Leah Shafer | Ayden Lê dịch
Trẻ nhỏ ngày càng đa dạng về ngôn ngữ. Làm
thế nào các nhà giáo dục đầu đời thể xây
dựng một môi trường học tập an toàn đảm
bảo sự phát triển phù hợp?
Quá trình trẻ nhỏ học cách trò chuyện với người
khác thật đáng kinh ngạc. Trẻ không chỉ phải
hiểu ngữ pháp và từ vựng mà còn phải phát triển
sự hiểu biết về văn hóa chẳng hạn như: trình tự
trong cuộc hội thoại, nhận biết được người đối
thoại và cách dẫn dắt một câu chuyện như thế
nào.
Đối với những trẻ dưới 5 tuổi học song ngữ
(Dual language learners) với ngôn ngữ mẹ đẻ
không phải Tiếng Anh - quá trình đó diễn ra
phức tạp hơn. Những trẻ nhỏ này phải liên tục
điều hướng giữa hai ngôn ngữ và văn hóa, đồng
thời học các quy tắc của cả hai. Mặc dù lợi ích
của đa ngôn ngữ rất rõ ràng, nhưng những trẻ
học song ngữ thể bị kì thị hoặc bị trêu chọc
vì sự khác biệt, dẫn đến những cản trở trong sự
phát triển của trẻ.
Khi sự đa dạng ngôn ngữ bùng nổ trên toàn thế
giới, các nhà giáo dục đầu đời cần phải chuẩn bị
để giúp học sinh học song ngữ thể đáp ứng
và vượt qua những thách thức này. Bài viết này
sẽ đưa ra nhận định từ Paola Uccelli2 - chuyên
gia về đọc viết, ngôn ngữ học và giáo dục song
ngữ về cách tạo ra môi trường thuận lợi giúp
phát huy khả năng của những trẻ học song ngữ
cũng như gia đình của chúng.
Sự đa dạng của ngôn ngữ trong giáo dục
đầu đời
1 Nguồn: https://www.gse.harvard.edu/news/
uk/18/04/multilingual-preschoolers
2 Paola Uccelli: là một giáo sư tại trường Harvard
Sau Đại học về Giáo dục. Cô nghiên cứu sự khác biệt
về văn hóa xã hội và cá nhân trong sự phát triển ngôn
ngữ và khả năng đọc viết trong suốt những năm đi học.
https://www.gse.harvard.edu/faculty/paola-uccelli
Theo Uccelli - Giáo tại tại Trường Harvard
Sau Đại học về Giáo dục cho biết: “Các sở
giáo dục đầu đời cần phải là những nơi trẻ
gia đình biết rằng họ ‘quyền được nói’,
rằng họ sẽ được lắng nghe phản hồi với sự
quan tâm và tôn trọng,”. Tuy nhiên, việc tìm
được những chương trình mầm non chất lượng
cao, đáp ứng về mặt văn hóa ngôn ngữ
không hề dễ dàng.
“Sự trộn lẫn,” (Code-mixing) hoặc kết hợp các
ngôn ngữ khác nhau trong một câu, không phải
dấu hiệu của sự chậm phát triển do
những trẻ học song ngữ đang học song song hai
ngôn ngữ cùng một lúc thường chỉ biết một
số từ nhất định trong một ngôn ngữ.
Ba trong số mười trẻ em trong các chương
trình Head Start3 xuất thân từ các gia đình
ngôn ngữ chính không phải là tiếng Anh và dân
số học tiếng Anh đang gia tăng trên khắp mọi
nơi. Nhưng một thực tế là có rất ít nhà giáo dục
mầm non thông thạo nhiều hơn một ngôn ngữ
và được đào tạo về sự đa dạng về văn hóa
ngôn ngữ.
Bên cạnh đó, trẻ song ngữ ngày nay cũng nói
một loạt các ngôn ngữ mà ngay cả các nhà giáo
dục song ngữ hay chuyên về song ngữ cũng
không có ngữ cảnh để hiểu được ngôn ngữ của
trẻ.
Và mặc dù có bắt nguồn từ những mục đích tốt,
bạn giáo viên vẫn thường đưa ra nhận
định không công bằng về mặt trí thông minh
tính cách đối với những trẻ và gia đình nói song
ngữ dựa trên cách họ nói.
Ba bài học thiết yếu cho các nhà giáo dục
đầu đời
3 Head Start: là một chương trình miễn phí, được
tài trợ bởi liên bang. Chương trình này được thiết kế cho
trẻ 3-5 tuổi, nhằm thúc đẩy sự sẵn sàng đi học cho trẻ
em từ các gia đình có thu nhập thấp.
44 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 27 - 2020
Góc nhìn
Để tạo ra các lớp học tích cực, các nhà giáo dục
cần bám theo một số điểm cơ bản về những trẻ
song ngữ.
“Sự trộn lẫn,” (Code-mixing) hoặc kết
hợp các ngôn ngữ khác nhau trong một
câu, không phải là dấu hiệu của sự chậm
phát triển do những trẻ song ngữ
đang học song song hai ngôn ngữ cùng
một lúc và thường chỉ biết một số từ nhất
định trong một ngôn ngữ.(Ngay cả khi
lớn lên, một số trẻ có thể có thế mạnh về
một số ngôn ngữ nhất định trong một số
trường hợp nhất định - dụ, chỉ thể
cầu nguyện bằng tiếng Tây Ban Nha
chỉ đọc bằng tiếng Anh.) Vì thế, ở lứa tuổi
Mầm non, việc trộn lẫn hai ngôn ngữ để
truyền đạt một ý là điều bình thường.
Tương tự, sự phát triển ngôn ngữ không
bị trì hoãn những học sinh này đang
học nhiều hơn một ngôn ngữ cùng một
lúc. Trẻ em đơn ngữ và song ngữ học từ
với tốc độ như nhau. Trên thực tế, song
ngữ đã được chứng minh là mang lại lợi
thế: liên quan đến việc thúc đẩy các
khả năng nhận thức cấp cao, hiểu được
nhiều quan điểm xã hội khác nhau và
nhận thức về ngôn ngữ toàn diện (meta-
linguistic awareness).
Nếu cha mẹ kỹ năng tiếng Anh hạn
chế, đừng khuyến khích họ sử dụng tiếng
Anh ở nhà với con mình. Điều này có thể
dẫn đến các cuộc trò chuyện hời hợt, bế
tắc không mang lại sự kích thích đối-đáp
(serve-and-return) hỗ trợ sự phát triển
ngôn ngữ. Phần quan trọng nhất của giao
tiếp giữa cha mẹ và con cái là chất lượng
của sự tương tác, bất kể ngôn ngữ.
Thiết lập các nhóm nhỏ bao gồm cả trẻ học
đơn ngữ trẻ học song ngữ, để đảm bảo sự
hòa nhập qua việc giải thích cho những trẻ chỉ
biết tiếng Anh rằng những trẻ học song ngữ vẫn
đang học làm mẫu cách họ thể giao tiếp
hiệu quả với bạn bè của mình.
Thúc đẩy sự hòa nhập và phát triển
Uccelli cho rằng việc thúc đẩy một môi trường
đa dạng hòa nhập chìa khóa quan trọng.
Không gian giáo dục đầu đời nên tạo điều kiện
cho trẻ em nói về sự khác biệt và học cách sống
trong một xã hội đa văn hóa. Các nhà giáo dục
nên đồng thời hỗ trợ phát triển tiếng Anh và coi
trọng ngôn ngữ mẹ đẻ của trẻ.
Đối với các nhà lãnh đạo về chương trình:
Viết một tuyên bố với sứ mệnh đánh giá
ràng sự đa dạng hòa nhập ngôn
ngữ.
Bất cứ khi nào có thể, hãy tìm những
người am hiểu về sự phát triển và đánh
giá song ngữ, kinh nghiệm làm việc
với các gia đình đa văn hóa, hoặc nói
tiếng mẹ đẻ của trẻ em để tham gia vào
chương trình chương trình giáo dục.
Hỗ trợ nhân viên đạt được những kỹ
năng phát triển về mặt chuyên môn
trong các lĩnh vực văn hóa, ngôn ngữ và
sự đa dạng.
Biên dịch sách, âm thanh tài liệu số
theo ngôn ngữ của trẻ. Làm nổi bật những
nội dung này trong toàn khắp lớp học.
Đối với Giáo viên hoặc Bảo mẫu trong Lớp
học:
Khuyến khích trẻ nói ngôn ngữ mẹ đẻ của
chúng trong những môi trường phù hợp,
chẳng hạn như với bạn bè cùng trang lứa
hoặc riêng với giáo viên. Tránh yêu cầu
trẻ nói chuyện công khai trước một nhóm
nếu trẻ cảm thấy không thoải mái khi làm
như vậy.
Thiết lập các nhóm nhỏ bao gồm cả trẻ
học đơn ngữ trẻ học song ngữ, để đảm
bảo sự hòa nhập qua việc giải thích cho
những trẻ chỉ biết tiếng Anh rằng những
trẻ học song ngữ vẫn đang học làm
45
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 27 - 2020
Góc nhìn
mẫu cách thức chúng có thể sử dụng để
giao tiếp hiệu quả với bạn bè của mình.
Học các từ hoặc cụm từ chính bằng ngôn
ngữ chính của trẻ học song ngữ hát
các bài hát trong lớp bằng các ngôn ngữ
đó. Đừng chỉ sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ
của trẻ để rèn luyện kỷ luật; thay vào đó
hãy sử dụng vào giải trí và học tập.
Cung cấp các “không gian tự do ngôn
ngữ” như những giờ nghỉ cần thiết để trẻ
có thể chơi mà không cần nói chuyện, sử
dụng các khối, đất nặn, hoặc các câu đố,
v.v.
Chú ý trả lời khi trẻ nói với bạn bằng
ngôn ngữ mẹ đẻ, ngay cả khi bạn không
hiểu lời.
Điều chỉnh ngôn ngữ phù hợp với trình
độ phát triển tiếng Anh của trẻ em. Nếu
một đứa trẻ vẫn đang trong giai đoạn đầu
học tiếng Anh, thì hãy đơn giản hóa các
thông điệp, lặp lại các từ quan trọng
sử dụng cử chỉ để hỗ trợ. Nếu có thể, hãy
sử dụng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của trẻ.
Mời các gia đình đa ngôn ngữ tình
nguyện tham gia lớp học của bạn sử
dụng ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Đồng thời
yêu cầu các phụ huynh viết nhãn cho các
vật dụng trong lớp học bằng ngôn ngữ
mẹ đẻ.
46 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 27 - 2020
Góc nhìn
Ban Biên tập Lộn xộn
Hoàng Anh Đức
Dương Phú Việt Anh
Nguyễn Linh Chi
Phạm Mai Hằng | Orenj Technology
Nguyễn Trần Thu Uyên | Viện Nghiên cứu và Đào tạo Việt Anh
Khương Thị Hồng Cẩm | Học Viện Kangan, Úc
Ngô Trọng Đại | Trường Trung học Vinschool
Lê Nguyên Khang | One On One English
Hà Thị Thanh Mai | Trường Mầm non Hoàng Mai (Q. Vấp -
TP.HCM)
Chương Nguyễn | THPT Chuyên Lê Quý Đôn Vũng Tàu
Nguyễn Tiến Đạt | Công ty CP PTGD POMATH
Phùng Thị Ngọc Lan | Hogwart
Logo | Hà Dũng Hiệp
Chế bản | Quách Anh
Liên hệ: bientap@day-hoc.org
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Số 27 | tháng 09 - 2020
Ban Biên tập Lộn xộn
Học để Dạy,
và Dạy để Học
ResearchGate has not been able to resolve any citations for this publication.
Ready to be counted: The research case for education policy action on non-cognitive skills
  • C Gabrieli
  • D Ansel
  • S Bartolino Krachman
Transforming Education. (Dec 2015). Ready to be counted: The research case for education policy action on non-cognitive skills. Gabrieli, C., Ansel, D. & Bartolino Krachman, S. Retrieved from: https://www.transformingeducation.org/ wp-content/uploads/2017/04/ReadytoBeCount-ed_Release.pdf
Introduction to social and emotional learning
Transforming Education. (April 2017). Introduction to social and emotional learning. LaRocca, R. Retrieved from: https://www.transformingeducation.org/wp-content/uploads/2017/04/Intro-
Expanding the definition of student success: A case study of the CORE Districts
  • S Arnold
  • R Larocca
Transforming Education. (Sept 2016). Expanding the definition of student success: A case study of the CORE Districts. Bartolino Krachman, S., Arnold, R. & LaRocca, R. Retrieved from: https://www.transformingeducation.org/ wp-content/uploads/2017/04/TransformingEd-