BookPDF Available

Tập san Dạy và học - Số 12 - Tháng 6, 2019 - Giới hạn

Authors:
  • EdLab Asia
  • CodeGym Viet Nam

Abstract

Số 12-tháng 06 | 2019 Nội san Dạy học | Day-hoc.org 09 ĐƯA STEM RA NGOÀI LỚP HỌC 32 TẤT CẢ CHÚNG TA ĐỀU CÓ THỂ TRỞ NÊN THÔNG MINH HƠN TRONG MỌI LĨNH VỰC? 16 LỚP HỌC CÓ NHIỀU TRÌNH ĐỘ 35 LIỆU CÓ CẦN XIN PHÉP MỖI KHI ĐI VỆ SINH? Nội san Dạy học | Day-hoc.org
GIỚI HẠN
Số 12 - tháng 06 | 2019
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
09
ĐƯA STEM RA NGOÀI LỚP HỌC
32
TẤT CẢ CHÚNG TA ĐỀU CÓ THỂ TRỞ NÊN
THÔNG MINH HƠN TRONG MỌI LĨNH VỰC?
16
LỚP HỌC CÓ NHIỀU TRÌNH ĐỘ
35
LIỆU CÓ CẦN XIN PHÉP MỖI KHI ĐI VỆ
SINH?
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
TRONG SỐ NÀY
HỌC THẾ NÀO?
GIÚP HỌC SINH KIỂM SOÁT LO ÂU
TRONG MÙA THI ..........................................................06
Thu Aki dịch
DẠY THẾ NÀO?
ĐƯA STEM RA NGOÀI LỚP HỌC ..................................09
Pomona dịch
MÔ HÌNH THIẾT KẾ SƯ PHẠM DICK AND CAREY ........... 13
Ứng Tuấn Minh dịch
THÁO GỠ KHÓ KHĂN: CHIẾN LƯỢC ĐỂ DẠY CÁC LỚP
HỌC NHIỀU TRÌNH ĐỘ .................................................16
Nguyễn Ngọc Diệp dịch
TẠO RA MÔI TRƯỜNG LỚP HỌC TÍCH CỰC .................20
Quỳnh Anh Lê dịch
CÁC MỐI QUAN HỆ CŨNG LÀ
NHỮNG GIÁO CỤ ĐẮC LỰC ..........................................22
Kim Ngân dịch
02 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 12 - 2019
CẢI TỔ GIÁO DỤC
ADHD: TRẺ NGỖ NGƯỢC HAY CÓ VẤN ĐỀ
VỀ THẦN KINH? ...........................................................25
Tâm Huy Ngô dịch
TẠI SAO CÓ ÍT ĐỒ CHƠI HƠN LẠI TỐT HƠN
CHO CON BẠN .............................................................30
Trung Hà dịch
TẤT CẢ CHÚNG TA ĐỀU CÓ THỂ TRỞ NÊN THÔNG
MINH HƠN TRONG MỌI LĨNH VỰC? ............................32
Lê Thanh Hằng dịch
LIỆU CÓ CẦN XIN PHÉP MỖI KHI ĐI VỆ SINH? ...........35
Nhậm Doanh Doanh dịch
03
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 12 - 2019
Thể lệ gửi bài:
Quý thầy cô, anh chị có nội dung liên quan tới
Dạy Học muốn chia sẻ tới cộng đồng, xin
vui lòng gửi về Ban Biên tập Lộn xộn qua email
bientap@day-hoc.org
Cuối bài viết, tác giả xin vui lòng giới thiệu vài
nét về bản thân: Họ tên, nơi công tác, địa chỉ
liên lạc, số điện thoại, các chủ đề nghiên cứu
yêu thích…
Do thời gian và nhân sự có hạn, Ban Biên tập
xin phép chỉ liên hệ với các bài viết được chọn
đăng.
Tinh thần 4.0
Ban Biên tập quý thầy cô, anh chị gửi bài
cộng tác đều chia sẻ tinh thần 4.0, tức là:
- 0 lương
- 0 văn phòng
- 0 chuyên môn cao
- 0 giới hạn không gian - thời gian
Địa chỉ gửi bài:
Bientap@day-hoc.org
Chia sẻ:
Quý thầy cô, anh chị cảm thấy nội dung Dạy
Học ích, xin vui lòng chia sẻ tới bất kỳ
những ai quan tâm, kèm theo trích dẫn nguyên
vẹn và đầy đủ về nguồn gốc bài viết.
Mọi người nói về Dạy & Học
“Cảm ơn những người hùng bản địa
(local champions) như các bạn! Tôi nghĩ rằng
một ấn phẩm với định hướng thực hành như
Dạy & Học thể đem lại ảnh hưởng lớn,
không chỉ ở những lời khuyên thực tế dành
cho giáo viên, mà còn giúp nâng cao vị thế
nghề nghiệp và cách mà giáo viên suy nghĩ
về bản thân và công việc của mình.”
- TS Daniel Gray Wilson,
Giám đốc Đề án Số không,
Trường Giáo dục Harvard
04 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 12 - 2019
Lời tựa
Quý độc giả thân mến,
Vậy là gần tròn một năm kể từ ngày Dạy & Học số đầu tiên ra mắt bạn đọc. Mới đó thôi,
mà số 12 đã tới “mắt” chúng ta. Để có được Dạy & Học như ngày hôm nay, đội ngũ Ban
Biên tập Lộn Xộn vô cùng cảm ơn những đóng góp chân tình, thường xuyên từ quý độc
giả trên mọi miền Tổ quốc, cũng như từ những miền viễn xứ.
Quý vị thân mến, có rất nhiều cách để chúng ta gọi tên mùa hè. Mùa hè có thể là mùa của
những kì nghỉ với biển xanh và nắng vàng, mùa của những lời chúc tụng, tán dương hay
mùa của cả những áp lực. Gọi tên mùa hè ra sao, mỗi người chúng ta hẳn đều có sự lựa
chọn riêng của mình. Đối với những người làm nghề giáo, bên cạnh những cảm xúc lẫn
lộn khó gọi tên thì mùa hè cũng là khoảng thời gian để chúng ta cùng nhau trau dồi kiến
thức, chuẩn bị cho năm học mới. Dạy & Học số này xin đóng góp một phần nho nhỏ vào
mùa hè của quý cô, thầy với chủ đề “Giới hạn”.
Giới hạn là thường là những gì mong manh nhất, nhưng lại cũng chính là những gì khó
vượt qua nhất. Khoảnh khắc chúng ta đối mặt với sự hiện hữu của giới hạn chính là bước
đầu tiên trên hành trình xoá nhoà những giới hạn ấy. Mở đầu số 12, chúng ta cùng thảo
luận, làm thế nào để “Giúp học sinh kiểm soát lo âu trong mùa thi?”. Chuyên mục Dạy
thế nào? kì này bàn về giới hạn của lớp học với “Đưa STEM ra ngoài lớp học”, “Lớp
học có nhiều trình độ”, “Tạo ra môi trường lớp học tích cực” và xem xét “Các mối
quan hệ như những giáo cụ đắc lực”. Bên cạnh đó, “Mô hình thiết kế sư phạm
Dick & Cary” được giới thiệu, tiếp nối vào chuỗi bài viết về các mô hình thiết kế sư phạm
từ nhiều số trước. Chuyên mục Cải tổ giáo dục lại thảo luận về một số giới hạn mà đâu
đó có tính chất tranh cãi nhiều hơn: “Rối loạn thiếu tập trung/hiếu động thái quá: Trẻ
ngỗ nghịch hay có vấn đề về thần kinh?”, “Ít đồ chơi hơn thì tốt hơn cho trẻ?”, “Tất
cả chúng ta đều có thể trở nên thông minh hơn trong mọi lĩnh vực?”, hay “Liệu có
cần xin phép mỗi khi đi vệ sinh?”.
BBT Lộn Xộn gửi lời chúc tất cả các thầy cô giáo và học sinh đã và đang tham gia các kì
thi chuyển cấp đều có một mùa hè thực sự ý nghĩa, và xin cảm ơn vì đã đồng hành cùng
chúng tôi trong suốt một năm qua.
Kính chúc quý vị có khoảng thời gian thú vị,
Thay mặt Ban Biên tập Lộn xộn,
Hoàng Anh Đức
05
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 12 - 2019
GIÚP HỌC SINH KIỂM SOÁT
LO ÂU TRONG MÙA THI
amazonaws.com
06 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 12 - 2019
By Meagan Gillmore1 | Thu Aki dịch
Bài kiểm tra và những kỳ thi thường gây nên lo
lắng cho cả giáo viên và học sinh. Với tần suất
càng ngày càng tăng của tiêu chuẩn trong các
bài thi liên tục các báo cáo về vấn đề sức khoẻ
tâm lý đang diễn ra ở trẻ nhỏ và thanh thiếu niên
kiến cho tình hình càng trở nên căng thẳng hơn.
Tuy nhiên giáo viên không cần bằng tâm lý học
cũng có thể áp dụng các phương pháp để hỗ trợ
học sinh thành công - bất kể điểm số nói gì.
tốt hay xấu thì bài thi sự lo lắng đều
một phần của cuộc đời học sinh. Chúng đều có
những lợi ích riêng. Theo Jennifer M. Cooper,
trợ giảng giáo về tâm tại trường đại học
quốc gia Louis Illinois, nếu lo lắng ở mức độ
1 Meagan Gillmore là một nhà văn tự do ở Toronto,
ON.
vừa đủ, thì chúng có thể giúp học sinh tăng khả
năng tập trung, khả năng nhớ và động lực trong
học tập. “Sự lo lắng được thiết kế để ngăn chặn
nguy hiểm trong học tập”, theo vị trợ giảng. Rắc
rối nảy sinh khi sự lo lắng cản trở khả năng
hoạt động của một người. Học sinh có thể
không thể tránh khỏi áp lực, nhưng họ nên học
cách quản lý nó.
Theo Cooper, kiểm tra cũng phục vụ một mục
đích. Chúng thể giúp học sinh giáo viên
xác định được khả hiểu bài của học sinh. Mấu
chốt là bài kiểm tra cần được đánh giá một cách
phù hợp.
Giáo viên thường là “người trả lời đầu tiên” khi
xảy ra các vấn đề về lo lắng, tác giả đề cập. Học
sinh lo lắng thường biểu hiện khó tập trung
khi làm bài kiểm tra, và thường quên các thông
tin họ từng biết. Họ thường bồn chồn, đổ mồ hôi
hoặc có biểu hiện buồn nôn.
Việc giáo viên và học sinh có một sự tương tác
chặt chẽ có thể giúp học sinh trở thành những
người tốt và khả năng chống lại lo âu. Điều
này được bắt đầu từ việc giáo dục học sinh làm
thế nào để chuẩn bị thật tốt cho kì những bài kiểm
tra. Bà Cooper cho biết: “Chúng tôi thường nghĩ
rằng những kỹ năng này là bẩm sinh, và bọn trẻ
không cần phải được dạy kĩ những vấn đề như
thế này” , nhưng học sinh nên được hướng dẫn
một cách ràng cẩn thận về việc làm sao
quản lý việc học tập. Điều này bao gồm việc dạy
học sinh cách đọc tờ hướng dẫn học tập, lên lịch
học và xây dựng không gian học tập, và khuyến
khích tinh thần học nhóm. Điều này cũng giải
thích cho việc làm sao có thể đối mặt với những
bài kiểm tra nhưng không bị căng thẳng, dụ
như bắt đầu làm những câu hỏi dễ trước, kho-
anh tròn vào những cụm từ quan trọng trong câu
hỏi, chia thời gian cho từng phần của bài kiểm
tra sao cho phù hợp đến sớm để chuẩn bị
tinh thần với giông khí của kì thì - tuy nhiên học
sinh không nên đến quá sớm. Điều này được
khẳng định bởi Cooper rằng, học sinh đến
trước giờ thi quá sớm có thể dẫn đến việc chúng
07
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 12 - 2019
sẽ nhiều thời gian cho việc chờ đợi dẫn
đến tình trạng thêm lo âu trước khi thi.
Giáo viên cũng thể thiết kế một bài thi phù
hợp với học sinh để giảm thiểu đi sự căng thẳng
cho chúng. Điều này có nghĩa là để ý đến một số
yếu tố vật lý trong việc thiết kế bài thi: không để
quá nhiều mục trên các trang giấy của bài kiểm
tra. Điều này cũng có nghĩa là tạo ra những câu
hỏi phù hợp. Tránh sử dụng các câu hỏi mẹo,
và sử dụng nhiều loại câu hỏi khác nhau để cho
phép học sinh thể hiện kiến thức của mình theo
cách khác nhau. Việc sử dụng những tự vui
nhộn có thể giúp học sinh thư giãn và thoải mái
khi đang làm bài thi.
Điều tuyệt nhất giáo viên có thể làm xây
dựng một môi trường học tập tích cực. Bà Coo-
per đưa ra quan điểm: ưu tiên làm chủ các kỹ
năng và khen thưởng nỗ lực nhiều hơn hiệu
suất trong các đánh giá. Tránh châm biếm, chế
giễu, và so sánh không đúng giữa các học sinh
với nhau. Không nên đăng danh sách tình trạng
học tập của học sinh vì điều này không giúp việc
làm cho không khí hay tinh thần học tập của học
sinh tốt hơn.
Xây dựng một môi trường lớp học một việc
quan trọng vì không phải tất cả các dấu hiệu của
việc căng thẳng, lo âu đều có thể nhìn thấy. Dấu
hiệu của lo lắng thường biểu hiện qua ý nghĩ
của học sinh hoặc nói những điều tiêu cực về
bản thân hoặc những người xung quanh. điều
này có thể rất khó để có thể xác định được - và
tất cả học sinh đều thể dễ bị những dấu
hiệu này. Một vài học sinh chần chừ trong việc
học tập, không phải chúng lười học, mà bởi
vì chúng đang có những dấu hiệu của sự lo âu,
theo bà Cooper cho biết, học sinh mà gặp phải
vấn đề rối loạn lo âu hoặc khó tập trung thường
có xu hướng dễ gặp phải việc lo âu trong thi cử.
Bà khẳng định rằng, giáo viên nên biết rằng học
sinh thường đạt được điểm cao thường cũng
khả năng gặp phải vấn đề về lo âu. Chúng
thể không phải lúc nào cũng có thể duy trì được
“phong độ” học tập mọi lúc.
Giáo viên nên hỏi học sinh của mình nếu học
thấy điều bất thường, hoặc dấu hiệu
của sự lo âu, nhưng họ cũng cần yêu cầu sự trợ
giúp chuyên nghiệp để giúp học sinh đang gặp
vấn đề về lo âu. Trường học thường trở thành
“trung tâm sức khoẻ tâm lý” theo Cooper. Đó có
thể là nơi chính học sinh nhận được hỗ trợ
về mặt tình cảm hội. Giáo viên cần tiếp
cận với các nhà tâm lý học ở trường và tìm các
nguồn lực để giúp họ hỗ trợ học sinh của mình.
Để xác định xem liệu học sinh có đang gặp
phải vấn đề trong thi cử hay không thì thể
sử dụng các câu đố để xác định. Để đánh giá
được vấn đề này, giáo viên có thể sử dụng các
câu hỏi như đánh giá khả năng làm bài thi của
hình (ví dụ: “Tôi thường quản tốt bài thì của
tôi” hoặc “tôi cảm thấy tôi không thể làm bài thi
của mình”). Giáo viên cũng thể hỏi học sinh
về cách chúng nghĩ người khác sẽ phản ứng với
hiệu suất bài kiểm tra của chúng như “nếu tôi
không làm được bài thi, tôi lo lắng mọi người sẽ
coi tôi là một người không có giá trị,” hoặc “tôi lo
lắng rằng thất bại trong việc làm bài kiểm tra sẽ
khiến tôi cảm thấy xấu hổ.”
Giáo viên có thể khuyến khích học sinh viết
những điều tích cực về bản thân để tạo động
lực và nhắc nhở chúng về cách chuẩn bị cho bài
kiểm tra. Các yếu tố kết hợp này giáo viên nên
xác định trước khi đến lớp: nhắc nhở học sinh
về cách nhớ kiến thức và lên chiến lược làm bài
thi phù hợp, ví dụ như nhớ đọc kỹ từng câu hỏi
và không mắc kẹt quá lâu trong các câu hỏi khó.
Điều này cũng nên bao gồm việc nhắc nhở học
sinh về việc sử dụng những phương pháp giúp
mình cảm thấy thư giãn, ví dụ như hít thở sâu,
luôn luôn thông thái, tích cực, những
câu nói mang tính hỗ trợ cai như, “Bài kiểm tra
này sẽ được hoàn thành tốt nếu bạn giữ bình
tĩnh. bạn có thể hoàn thành nó,” hoặc “ Tôi biết
những tài liều này và tôi cảm thấy tốt về nó.”
08 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 12 - 2019
Adam Stone2
Pomona dịch
Một cuộc khảo sát của Hiệp hội Quốc gia Các
trường Tư thục cho thấy 82% học sinh trung học
đôi khi hoặc thường xuyên cảm thấy chán nản
trong lớp. Todd Ablett có một giải pháp đơn giản:
Đưa các em học sinh ra khỏi lớp học và đưa các
em vào trong xưởng thủ công.
Là giáo viên hướng dẫn chính bộ môn robotics
của trường Trung học sở West Vancouver,
thầy đưa các học trò của mình tham gia vào Giải
Robotics vô địch thế giới VEX. Năm nay, các học
trò của anh đã đạt được vị trí thứ 15 trên tổng số
15000 đội tham gia. Qua cuộc thi này, “các em
được trở thành những chuyên gia thực thụ về
một lĩnh vực nào đó. Kỹ năng lập trình của các
em đã vươn tới một trình độ rất cao.” - Thầy nói.
1 Nguồn: Taking STEM Outside e Classroom:
https://teachmag.com/archives/10644
2 Adam Stone là một nhà báo dày dạn với hơn 20 năm
kinh nghiệm viết về các chủ đề giáo dục, công nghệ, quân
đội,...
Từ mầm non đến lớp 12, các nhà giáo dục STEM
đang kiếm tìm những lối đi nhằm đưa Khoa học
ra ngoài lớp học và khiến nó trở nên sống động.
Ngoài những cuộc thi robotics, họ đang kết hợp
với ngành công nghiệp, với những trường đại
học và đang theo đuổi thật nhiều những con
đường sáng tạo khác để làm cho STEM không
chỉ còn là một bài tập trong cuốn sách giáo khoa.
Môi trường địa phương
người đứng đầu cho chương trình nghiên
cứu khoa học của trường trung học Lincoln
Yonkers, New York, Dean Sagha hợp tác với
CURB (liên minh của trường đại học Sarah Law-
rence trung tâm Giáo dục Môi trường Bec-
zak) để đưa học sinh tới tham quan trực tiếp
dòng sông Hudson - một địa điểm đặc trưng của
vùng.
“Các em học sinh của tôi phải khởi động các dự
án đầu tiên của chính mình. Và các em được sử
dụng thiết bị của trường đại học để đo độ dẫn
điện, độ mặn, nồng độ oxy hòa tan, độ pH
chất lượng nước” - Thầy cho biết.
ĐƯA STEM RA NGOÀI LỚP HỌC
kalamundashs.wa.edu.au
09
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 12 - 2019
Dạy thế nào
Bằng cách tận dụng những phù kế phức tạp
của trường đại học, những thiết bị quang phổ
và những vật dụng cao cấp khác của phòng thí
nghiệm, học sinh thu về cho mình những hiểu
biết vượt qua ngoài phạm vi lớp học.
“Hoạt động thực hành thực sự nuôi dưỡng sự
hứng thú trong những đứa trẻ. Được tiếp cận
một vấn đề thực tế thay vì những con số ở trên
mạng, học như vậy thì mới thú vị.” - Thầy cho
biết - “Bằng hành động thực tế, học sinh thấy
được ý nghĩa của việc đi thu hoạch số liệu, việc
kết hợp kiến thức hóa học với các kỹ năng ng-
hiên cứu. Tính liên ngành cuối cùng chính là thế
đấy.”
Trong một dự án riêng biệt, Sagha ghép nhóm
học trò của mình với các nhà nghiên cứu sinh
học ở trung tâm Ung thư Sloan Kettering và với
các nhà dịch tễ học thông qua Chương trình Giáo
dục Y sinh trường Sophie Davis, một chương
trình học tập trải nghiệm hàng tuần. Thầy nói:
“Bí quyết để đưa STEM ra khỏi lớp học là phải
các trường đại học các viện nghiên cứu
sẵn sàng đón nhận bọn trẻ và cho bọn trẻ cơ hội
được làm nghiên cứu”.
Khai thác nhựa cây
Môi trường tự nhiên là lợi thế trực quan cho rất
nhiều giáo viên STEM thỏa mãn trí tò khoa
học mà sách giáo khoa không đáp ứng được.
Giống như việc những đứa trẻ ở Yonkers khám
phá về con sông Hudson - một điểm đến đặc
trưng của vùng - Maya Crosby đưa các học trò
của mình ra ngoài trời để chích nhựa cây phong.
giám đốc STEM của Trường Allendale Co-
lumbia ở Rochester, New York, cô dẫn dắt việc
triển khai một cuộc thí nghiệm trồng cây phong
hàng năm. Thí nghiệm sự kết nối giữa các
kiến thức về nông nghiệp hóa học để sản
xuất hơn 60 chai xi-rô mỗi năm.
“Các em thu hoạch nhựa cây, nấu chảy rồi
đem bán nó. Xuyên suốt dự án, các em tìm hiểu
về khoa học sản xuất xi-rô và về việc sản xuất ra
thực phẩm”, cô nói. “Dự án này nhắc khá nhiều
đến thực vật học. Chúng tôi thảo luận về khoa
học thực vật và tại sao cây phong tạo ra chất
đường này. Có chất hóa học liên quan đến việc
biến nhựa cây thành xi-rô. Nó có liên hệ tới các
loại kiến thức và việc kiểm soát chất lượng mà
bạn phải tính đến khi bạn sản xuất một thứ gì đó
cho một người ăn. Đó là một lĩnh vực đang phát
triển của STEM.”
10 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Cô Crosby cũng kết nối với ngành công nghiệp
địa phương giáo dục đại học với nỗ lực để
sinh viên được tiếp xúc với các vấn đề thời sự
của khoa học. Cùng với các công ty như Koda-
k,Xerox và cộng đồng địa phương, vùng đất này
đầy ắp những cơ hội về khoa học ánh sáng
tạo ảnh.
Hợp tác với các nhà nghiên cứu của trường
cao đẳng, đại học ở địa phương, cô đã tìm thấy
những cơ hội để gắn kết học trò với đèn LED
thể điều khiển được, với máy chiếu hình ảnh 3D
với các loại công nghệ khác còn khá xa
vời với chúng ta. Cô nói: “Chúng hào hứng tham
gia và thể hiện năng lực đáng kinh ngạc ở tầm
tuổi nhỏ như vậy.”
Chiếc hộp Tò mò “Curiosity Cube”
Cô Tammy Scelsi là một giáo viên dạy Khoa học
khối 7 trường Trung học sở Marshall Si-
monds tại Boston, MA. Cô ấy đã đưa các học trò
của mình ra khỏi lớp học, đi vào trong một chiếc
hộp khổng lồ.
Thực ra, đó một thùng chứa chuyên dụng
cho vận chuyển, dài 6,7x3m, được gắn cho một
cái tên là Curiosity Cube. Công ty khoa học đời
sống Millipore Sigma đã phát triển cung
cấp miễn phí các thùng chứa này cho các giáo
viên. Nó là một phòng thí nghiệm di động được
tham mưu bởi nhiều chuyên gia, chứa đựng
nhiều hoạt động học tập cho học sinh.
“Trong đó có 1 trạm in 3D ở đó để các em in ra
những mảnh nhỏ của một tổ hợp robot. Có công
nghệ cử chỉ giao diện để các em thể tách
hình ảnh của bộ xương hộp sọ nhìn vào bộ
não chỉ bằng cách vẫy tay ra hiệu trong không
khí. Và trong đó cũng có một vài chiếc kính hiển
vi để nhìn vào các tế bào não bị ung thư và tế
bào não khỏe mạnh” - Scelsi nói về chiếc
Curiosity Cube.
Điều tuyệt nhất học sinh thể tách chiết
DNA từ chính nước bọt của mình. “Nếu bạn
một học sinh lớp 7, trong giờ học Khoa học, bạn
được nhổ nước bọt. Điều này thú vị lắm đấy!” -
Cô nói.
Thứ khiến Scelsi hào hứng nhất là lúc cô được
nhìn thấy các học trò của mình tương tác với
những chuyên gia công nghệ. “Đó là những
người thực sự làm việc trong ngành khoa học,
người có thể nói về những điều khả dĩ trong sự
nghiệp”. Nhờ vậy, dù ở độ tuổi 12, 13 tuổi, những
đứa trẻ này đã có thể bắt đầu suy nghĩ: “Đây
một hướng đi mình có thể sẽ đi trong cuộc
đời của mình.” Chúng ta không thường xuyên
có được một cơ hội để đón tiếp các chuyên gia
đến từ bên ngoài.” - Cô cho biết.
Những gắn kết cộng đồng
Trong khi một số người tìm đến thiên nhiên hoặc
ngành công nghiệp như một cách để kết kết nối
các điểm giao giữa khoa học đời thực, thì
một số khác lại sử dụng một cách tiếp cận khác,
sử dụng phòng học khoa học làm điểm bật để
kết nối thậm chí để đề cao cộng đồng địa
phương của họ.
Jaleesa Trapp từng cựu giáo viên khoa học
máy tính ở trường trung học hiện nay đang
là sinh viên và đồng thời là trợ lý nghiên cứu tại
MIT Media Lab (một phòng thí nghiệm nghiên
cứu liên ngành) Cambridge, MA. Trong công
việc trước đây với tư cách điều phối viên tại
The Clubhouse Network ở Tacoma, WA, đã
dẫn dắt các sinh viên của mình điều tra hệ thống
còi hiệu khẩn cấp tại địa phương, áp dụng yêu
cầu khoa học cho một địa điểm nhất định.
Học sinh gặp những người trực tổng đài 911 và
được biết rằng các đường dây thường được
sao lưu lại với các cuộc gọi không khẩn cấp.
Sau đó, họ tiến hành thiết kế một ứng dụng cho
phép mọi người báo cáo các trường hợp khẩn
cấp mà không cần tới đường dây điện thoại.
11
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Dự án đó đã thành công vì nó được phát triển từ
đam mê thực sự của học sinh. “Dự án này cho
phép học sinh phối hợp các kỹ năng về kỹ thuật
với mối quan tâm cộng đồng. Sự đầu tư của học
sinh là rất quan trọng và chúng tôi khuyến khích
học sinh chia sẻ sự hứng thú của chúng thay vì
áp đặt sự hứng thú đó. điều ấy cũng đồng
thời cho phép các em tìm kiếm bạn học có cùng
sở thích.” - Cô nói.
Nỗ lực của học sinh vươn ra bên ngoài phạm
vi lớp học. Bên cạnh những nhân viên trực
tổng đài khẩn cấp, chúng nói chuyện với những
người từng vô gia cư, các giám đốc chương
trình thanh thiếu niên và một loạt những người
khác đang giải quyết các vấn đề xã hội.
Một số người có thể chất vấn rào cản pháp lý
hậu cần xung quanh các loại hoạt động này, và
trên thực tế, khi mạo hiểm đưa học sinh ra ngoài
lớp học, giáo viên nói rằng chúng thực sự gây
trở ngại.
“Cũng tồn tại những mối lo về tính an toàn, về tính
hợp pháp xung quanh việc gặp gỡ giữa các em
học sinh sau giờ học hoặc vào cuối tuần. Cũng
cả những vấn đề về hợp đồng xung quanh
việc tôi sử dụng thời gian của mình thế nào và
đó đều là những yếu tố hạn chế.” - Sagha nói.
Thông thường, chìa khóa để vượt qua những
rào cản như vậy nằm sự cảm thông của cấp
quản lý. “Tôi may mắn. Hiệu trưởng của tôi
các trường công lập rất tốt với chúng tôi: Nếu
tôi nói rằng tôi muốn đưa bọn trẻ ra ngoài để
đo mẫu nước, tôi sẽ nhận được sự hỗ trợ cho
mong muốn đó”. Sagha nói. “Bạn cần được
người quản lý lắng nghe.”
Các công cụ trực tuyến
Cho những ai muốn đưa STEM ra ngoài lớp
học, một loạt các tài nguyên trực tuyến
sẵn như là:
Ngoài những giáo án các hoạt động
trong lớp, eGIF Dream Up the Future
cung cấp các đường dẫn đến một loạt các
chương trình bên ngoài từ các trường đại
học, tập đoàn, bảo tàng và các quan
chính phủ.
Trang web Teach Engineering cung cấp
các giáo án cũng như “Thử thách Mak-
er” để khuyến khích học tập trải nghiệm
trong một loạt các chủ đề STEM.
Từ Lego đến slime, các giáo viên sẽ tìm
ra cách để giúp những bạn học sinh trẻ
tuổi được nghịch ngợm với bàn tay vấy
bẩn tại:
https:// littlebinsforlittlehands.com/
outdoor-stem-activities- science-kids/.
Cần có một ý tưởng để đưa STEM ra
ngoài lớp học? Chiến dịch Science Ev-
erywhere thể giúp tài trợ cho dự án
của bạn.
Không có một lối đi nào là chuẩn chỉnh để đưa
Khoa học và Công nghệ ra khỏi lớp học. Các tổ
chức đối tác, các chuyến đi thực địa, các cuộc
thi,.. tất cả đều cung cấp những phương tiện
thông qua đó học sinh được mời gọi tham gia
hoạt động, để đặt sách giáo khoa sang một bên
và xắn tay áo lên.
Tại trường trung học West Vancouver, Todd
Ablett có một quy tắc chính mà anh ấy thích tuân
theo khi các học sinh của mình cùng nhau chế
tạo ra robot: Không nhúng tay vào bất cứ việc
nào cả.
“Các em có thể phải sau một hoặc hai tháng mới
phát hiện ra mình đã đi sai đường, nhưng đó có
thể là khoảnh khắc học tập bùng nổ, khi mà học
sinh đặt ra câu hỏi: “Bây giờ bọn mình phải làm
gì đây?”. Trong STEM, học sinh rèn đối mặt với
nỗi sợ hãi về sự thất bại của bản thân.”
12 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
MÔ HÌNH THIẾT KẾ SƯ PHẠM
DICK AND CAREY
todaysparent.com
13
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Người dịch :Ứng Tuấn Minh
Các mô hình thiết kế sư phạm rất đa dạng.
Trong khi một số người tập trung vào kế hoạch
giảng dạy, một số khác tập trung vào phát triển
nội dung, mô hình thiết kế sư phạm của Dick và
Carey (được gọi hình tiếp cận hệ thống)
là một trong các kiểu mẫu. Mặc dù sơ đồ có vẻ
phức tạp (hình bên dưới), các bước thường chỉ
được kết nối theo như những chúng làm để
giúp bạn tìm ra dạy cái gì dạy như thế nào.
Mười bước này được liên kết với nhau các
bước đều có sự ràng buộc lẫn nhau, sự thay đổi
ở bước này có thể làm ảnh hưởng đến một vài
bước khác.
Bước 1. Xác định mục tiêu sư phạm
Bước đầu tiên là tìm ra các mục tiêu giảng dạy.
Điều này nghĩa là bạn hãy xác định những điều
học sinh cần học. dụ, nếu bạn đang dạy
một khoá học về lịch sử Hoa Kỳ, lẽ bạn sẽ
không dạy một bài học về Guy Fawkes âm
mưu thuốc súng của anh ta từ năm 1605. Tuy
nhiên, nếu bạn đang dạy một lớp về lịch sử Anh,
thì sẽ cần dạy bài âm mưu thuốc súng. Tất cả
phụ thuộc mục tiêu chính và các mục tiêu phụ
Bước 2. Phân tích sư phạm
Bước thứ hai là phân tích. Ở bước này bạn cần
xác định các kỹ năng học sinh sẽ cần học để lên
kế hoạch dạy cái gì. Quay trở lại tình huống Guy
Fawkes, sẽ có những học sinh yêu thích lịch sử
sẵn sàng ngồi xuống và lắng nghe. Những học
sinh khác thể chỉ cần làm việc với học liệu
theo tốc độ học của riêng chúng. Học sinh
cần biết các bối cảnh trước khi vào bài? Hay
bạn sẽ dạy một bài giới thiệu về âm mưu đó
sau đó đưa ra bài tập giới thiệu? Lưu ý rằng nếu
bạn dạy bài này, bạn phải tính đến những gì học
sinh có thể hoặc chưa được học.
Bước 3. Tiếp cận hành vi đặc điểm của
người học
Tiếp theo, bạn phải xác định những kỹ năng nào
học sinh cần trước những kỹ năng
trong bài học. Đối với dụ Guy Fawkes, nếu
bạn xác định rằng họ thể nhớ ngày anh bị
bắt (5/11/1605) ai đó không giỏi trong việc
ghi nhớ ngày, bạn thể phải giúp học sinh.
Học sinh có thể ngồi yên trong khoảng thời gian
không? Hay học sinh gặp khó khăn khi nói
chuyện? Những kỹ năng này sẽ tác động đến sự
hiểu bài của mỗi học sinh.
Bước 4. Mục tiêu năng lực (Performance
Objectives)
Tiếp theo bạn phải tìm ra mục tiêu cần thiết của
bài học. Điều này tương đương với SWAT – or
Student Will Be Able To – (Học sinh sẽ có thể)
mọi lớp học Mỹ phải có. Các mục tiêu phải chi
tiết - chẳng hạn như học sinh sẽ có thể xác định
được mục đích của âm mưu thuốc súng. Càng
chi tiết cụ thể sẽ càng giúp bạn đảm bảo rằng
bạn đang dạy cho học sinh của mình những
quan trọng nhất, chẳng hạn như âm mưu thuốc
súng có nghĩa là làm nổ tung Quốc hội.
Lưu ý rằng, đến đây, bạn chưa thực sự giảng
dạy đây bốn bước đầu tiên. Dạy học bắt
đầu bước tám, nhưng điều này chỉ đưa ra
phác thảo chung cho một gợi ý về cách làm cho
việc dạy học hiệu quả.
Bước 5. Các tiêu chí kiểm tra
Điều thứ năm bạn phải làm tạo ra một bài
kiểm tra (phù hợp với mục tiêu) sẽ phản ánh
những bạn thể dạy cho học sinh. Tham
khảo lại các ghi chú sẽ giúp bạn tìm ra những
gì cần kiểm tra. Bài đó nhằm giúp học sinh hiểu
những các em hoặc chưa thành thạo
kết quả để cha mẹ giáo viên biết. dụ,
Guy Fawkes, bạn có thể đặt câu hỏi về phần âm
mưu, anh ta bị bắt như thế nào, ai có liên quan
và ý nghĩa của âm mưu là gì. Nếu học sinh được
xem một đoạn phim sự kiện đó, chúng được yêu
cầu ghi chú lại các thông tin, bạn có thể kiểm tra
về đoạn phim đó.
14 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Bước 6. Chiến lược sư phạm
Tiếp theo, bạn bắt đầu lên kế hoạch bài dạy.
Điều này nghĩa bạn sẽ dạy họ học cùng
các hoạt động lớn nhỏ. Nếu bạn muốn
hoạt động nhóm, bây giờ thời gian để bạn
quyết định khi nào và những nội dung hoạt động
nhóm gì. Nhắc lại về Guy Fawkes, một hoạt
động nhóm nghĩa mỗi nhóm cố gắng sử
dụng những gì họ biết để tạo một bài thuyết trình
trước lớp cũng được coi là một hình thức kiểm
tra đánh giá.
Bước 7 Tài liệu sư phạm
Thứ bảy, bạn chắc chắn rằng bạn có tài liệu để
dạy. Nếu bạn có một tài liệu (các hoạt động dạy
học, tư liệu,...) nào đó để dạy hoạt động
tốt thì hãy dùng nó. dụ như trong âm mưu
thuốc nổ Guy Fawkes, có thể mang một mô hình
thùng thuốc nổ hoặc mô hình tòa nhà quốc hội
sẽ nổ tung hoặc một tấm bản đồ của Luân Đôn
vào vào thời điểm đó. Tuy nhiên, điều đó sẽ
không mở rộng đối tượng của bài học. Nếu bạn
đưa ra một bài kiểm tra, hãy đảm bảo tất cả mọi
thứ đều được chuẩn bị kỹ càng
Bước 8. Đánh giá quá trình
Tiếp theo, bạn sẽ phải đánh giá bài học đã diễn
ra như thế nào. Có học sinh tích cực với công
việc nhóm không? Có nhóm nào hoạt động
chưa hiệu quả? học sinh nào bị động trong
khi những người khác làm tất cả công việc? Bạn
cho học sinh thời gian trải nghiệm thực tế hoặc
làm việc nhóm nhỏ hơn để được làm từng việc
một.
Bước 9. Đánh giá tổng kết
Đây bước để bạn nhìn nhận điều chỉnh
lại. Nếu bạn dạy nhiều lớp cùng một bài, bạn
có cơ hội để sửa lại. Nếu có một hoặc hai phản
hồi không tốt, nhưng nếu nó hoạt động tốt trong
phần lớn thời gian thì hoạt động đó đáng để giữ.
Nếu một hoạt động không một lớp nào
thích, thì đáng để cắt nó ra và thay thế bằng một
hoạt động khác. Bước này để đảm bảo rằng khi
bạn bắt đầu lại quá trình giảng dạy, nó sẽ hoạt
động tốt.
Cuối cùng, bạn chỉ cần nhìn lại toàn bộ trải ng-
hiệm của mình bằng mô hình. Nó có hoạt động
như bạn muốn? Bạn đã tạo ra một kế hoạch
bài học tốt hơn trước đây? Hay các hoạt động
có phản hồi tích cực không? Bạn có thấy mình
dành quá nhiều thời gian cho một vấn đề lớn?
Trước khi hoàn toàn đánh bại bản thân vì không
dành thời gian cho một lĩnh vực, nếu bạn đã biết
câu trả lời cho lĩnh vực đó, nó sẽ giúp công việc
của bạn dễ dàng hơn. Điều đó nghĩa là bạn
có thể dễ dàng thực hiện phần còn lại của quá
trình – đơn giản chỉ ra cách chúng được kết nối,
dù trực tiếp hay gián tiếp. Đó là một phần lý do
tại sao nó được coi là một mô hình học tập tốt.
15
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Meagan Gillmore1 | Nguyễn Ngọc Diệp dịch
Năm học 2016-2017 tại Newfoundland Lab-
rador dường như sẽ có khởi đầu rất khó nhọc
trước khi thật sự bắt đầu. Vào tháng Tư, chính
phủ thông báo sẽ triển khai lần đầu tiên các
lớp học gồm nhiều trình độ tại một vài trường.
Điều này hoàn toàn mới lạ với các phụ huynh -
rất nhiều phụ huynh chưa bao giờ học một lớp
trong đó nhiều học sinh từ nhiều khối lớp,
và con họ đương nhiên cũng vậy. Phụ huynh lo
lắng, e rằng con họ sẽ phải chịu nhiều trở ngại
cả về kiến thức và xã hội.
“Chính những đứa trẻ đang rơi vào trạng thái
bấp bênh có thể đang gặp khó khăn, nhưng có
thể các em không nói ra - sự đấu tranh âm thầm
(điều chúng ta đang lo lắng),” theo lời Krista
1 Meagan Gillmore là nhà văn và biên tập viên
tự do tại Toronto, khi còn đi học, cô dành sự quan
tâm cho cả các lớp học trong cùng cấp và các lớp
gồm nhiều bậc học.
Trask - một thành viên hội đồng trường tiểu học
Beachy Cove Portugal Cove-St. Phillip’s, NL.
Trường Beach Cove cũng một trong những
trường triển khai lớp học nhiều trình độ. Cô cho
biết thêm “Chúng tôi chỉ mong rằng phụ huynh
cũng như giáo viên vẫn dành thời gian
mục tiêu rõ ràng để chắc chắn rằng học sinh
không bị lạc lối.”
Họ cũng lo lắng về những nhu cầu xã hội và nhu
cầu tình cảm. “Đối với chúng tôi, quan trọng hơn
cả các em khoẻ mạnh”, Trask nói, không
phải lo lắng giữa học sinh với nhau. Một
vài học sinh lo không được tiếp tục học cùng bạn
của chúng, hoặc bị trêu chọc khi học ở lớp gồm
nhiều trình độ. Học sinh không biết học lớp học
nhiều trình độ sẽ như thế nào cho đến khi năm
học bắt đầu. Các em vẫn băn khoăn, nhiều
thắc mắc, nhưng bố mẹ chúng thì lại không có
lời giải đáp.
THÁO GỠ KHÓ KHĂN: CHIẾN LƯỢC ĐỂ
DẠY CÁC LỚP HỌC NHIỀU TRÌNH ĐỘ
teachmag.com
16 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Trong lớp học nhiều trình độ, học sinh có thể ở
cùng một khối hoặc một số khối liên tiếp, học
sinh học cùng một giáo viên, trong cùng phòng
học. Lớp học kiểu này rất phổ biến ở hầu hết các
tỉnh hạt Canada. một vài khu vực, các
lớp học này thực sự phát triển. Tuy nhiên, điều
này hoàn toàn lạ lẫm với các trường học ở New-
foundland và Labrador. Ở nơi nhiều trường
lên kế hoạch để từ chối tham gia, trường Beach
Cove thì ngược lại, rất tha thiết. Với chỉ dưới 800
học sinh, rất ít không gian cho trường học
từ mầm non đến lớp 6. Trong những năm gần
đây, những phòng nhỏ cũng được dùng làm lớp
học, (cũng kế hoạch xây trường cho khối 5
đến khối 9.) Theo như James Dinn, chủ tịch của
Hiệp hội Giáo viên tại Newfoundland và Labra-
dor, chính phủ đã quyết định triển khai hình thức
lớp học nhiều trình độ mà không hỏi ý kiến của
giáo viên. Vào đầu tháng Sáu, giáo viên đã chỉ
được đào tạo hơn một ngày về cách đứng lớp
với những lớp học này.
Giáo viên dù ít dù nhiều sẽ có ít quyền kiểm soát
hơn, họ không biết có bị chỉ định dạy lớp nhiều
trình độ hay không. Các lớp học thường được
thiết kế để duy trì số lượng, hoặc về những
do liên quan đến vấn đề ngân sách. Giáo viên
không thể kiểm soát được điều này, và họ cũng
không thể dự đoán được phản ứng của phụ
huynh. Nhiều giáo viên giàu kinh nghiệm trong
việc dạy các lớp học như thế này cho biết mối lo
lắng của phụ huynh sẽ giảm dần khi họ thấy con
họ đem về nhà những sản phẩm học chất
lượng, hoặc nếu họ tự nguyện tham gia lớp học
thấy được lớp được quản tốt như thế
nào. Dù sao, để làm được một chương trình cho
nhiều trình độ như kỳ vọng đáp ứng được
những nhu cầu ngày càng tăng của học sinh -
trong khi lại có ít nguồn tham khảo - thì đây vẫn
là một thử thách. Nhưng cả giáo viên, học sinh
thể phát triển, trưởng thành hơn rất nhiều
trong những lớp học như thế này.
Hãy bắt đầu bằng viễn cảnh nhận được sự hỗ
trợ tích cực. “Nếu (chính quyền) đặt vào tay bạn
triển khai phương thức này, nghĩa họ chắc
chắn biết bạn có thể đảm nhiệm được khối
lượng công việc lớn hơn” Melanie Brown-Rob-
son cho hay - bà người đã gắn bó gần như hơn
30 năm dạy học cho các lớp học nhiều trình độ
ở Uỷ ban Trường học hạt Niagara ở Ontario.
đã mô tả nhiệm vụ này như một “niềm vinh dự”
đã thúc đẩy sáng tạo hơn - nhưng đi kèm
cũng là nhiều việc hơn.
Giáo viên cần đảm bảo các kỳ vọng cho cả hai
chương trình, nhưng họ không cần phải dạy hai
bài giảng hoàn toàn khác nhau. Bài học có thể
thiết kế xung quanh những chủ đề chung có thể
hoàn thiện được để đáp ứng kỳ vọng của cả hai
chương trình. Brown-Robson phân tách những
kỳ vọng từ các tài liệu về khung chương trình và
nhóm những điểm chung lại với nhau. Đương
nhiên điều này sẽ có thể mất thời gian, đặc biệt
khi lần đầu tiên dạy nhiều khối.
Đôi khi giáo viên có thể truyền đạt một bài cho
tất cả học sinh, nhưng đánh giá ở mỗi khối
sẽ khác biệt. Kỳ vọng về khung chương trình
thường tương tự với những môn học như ngôn
ngữ (tiếng Anh và tiếng Pháp) và Toán học, với
học sinh ở khối lớn hơn sẽ được học kiến thức
nâng cao hơn. Một giáo viên thể dạy cùng
một bài thơ cho tất cả học sinh, nhưng cần yêu
cầu học sinh tập trung vào những mục tiêu khác
nhau tuỳ thuộc vào học sinh đang khối nào.
Những môn học này cũng cung cấp cho bản
thân giáo viên phương pháp dạy học với nhóm
nhỏ dựa trên khả năng của từng học sinh, không
phải dựa trên cách chia khối.
Không phải môn học nào cũng có thể dạy theo
cách này. Các môn khoa học tự nhiên và khoa
học xã hội có thể bao trùm các chủ đề hoàn toàn
khác biệt. Trong vài trường hợp, giáo viên
thể dạy kết hợp các trình độ khác nhau lần lượt
17
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
trong khoảng một năm. Nếu gặp trường hợp này,
giáo viên có thể dùng chương trình khoa học tự
nhiên và khoa học xã hội cho một khối trong một
năm, và sẽ sử dụng chương trình của khối lớn
hơn cho năm tiếp theo. Cần 20 tháng để có thể
bao quát được mọi thứ, chứ không chỉ 10 tháng.
Điều này đòi hỏi lên kế hoạch dạy kỹ càng, sàng
lọc cẩn thận để tránh lặp lại những kiến thức
không cần thiết. Phòng học học sinh các
khối lớp khác nhau, dụ như trong lớp cả
học sinh lớp nhỏ học chung với học sinh cấp
trung học, có thể gặp nhiều khó khăn hơn vì sẽ
khó hơn để tìm được một chương trình kết nối
được kiến thức các khối lớp với nhau.
Phụ huynh có thể sẽ lo lắng con họ bị tụt lại nếu
chuyển từ lớp học nhiều trình độ sang lớp học
cùng trình độ và ngược lại. Nhưng những đứa
trẻ không chỉ học kiến thức liên quan đến môn
học mà còn học kỹ năng nghiên cứu tư duy
trải dài nhiều khối lớp và nhiều môn học.
Cần chuẩn bị quản lớp kỹ hơn cho lớp học
nhiều trình độ. Theo như Brown-Robson, “Bạn
cần đi quanh lớp liên tục, và trong lớp nhiều
trình độ không bao giờ có thời gian chết.”
Thông thường giáo viên chỉ có thể dạy học sinh
cùng một khối, nhưng thực tế có nhiều cách để
học sinh có thể tự học. Josh Tellier, một giáo viên
ở trường Công giáo Holy (Holy Family Catholic
French Immersion School) ở Woodstock, ON,
sử dụng công nghệ thực tế ảo khi dạy các môn
xã hội cho khối lớp 6/7. Thầy cho một khối học
bài mới, trong khi đó học sinh khối còn lại học
qua thực tế ảo. Sau đó thầy lại đảo lại, để tất cả
các em đều được trải nghiệm thực tế ảo. Jenni-
fer McMillan, một cô giáo tiểu học ở Halifax, lại
dùng các hệ thống học tập hoặc hoạt động học
tập khác nhau trong lớp học để giải quyết. Một
khối sẽ hoàn thành được vô số các hoạt động, ví
dụ như đọc sách theo nhóm hoặc độc lập, trong
khi đó cô hướng dẫn cho một khối khác.
Để một lớp học nhiều trình độ thành công, theo
cô McMillan, cần coi cả lớp là một, không phân
biệt ra thành nhiều khối. McMillan đã từng
dạy các lớp học dành cho người trưởng thành
giải thích thêm “Nếu bạn đang coi cả lớp như
một tập thể gia đình và bạn gắn kết được tất cả
học sinh dựa trên cách học của các em, thì đây
không phải một vấn đề to tát”. Học trò của
tham gia vào các hoạt động xây dựng cộng
đồng, dụ như vừa tung bóng theo vòng tròn
vừa kể chuyện về bản thân. Hoạt động chia sẻ
giúp xây dựng cộng đồng, tập hợp các câu
chuyện hàn huyên cho thấy các em đã được kết
nối với nhau như thế nào.
Mọi lớp học, kể cả với lớp học chỉ một khối
lớp, đều những học sinh những trình độ
khác biệt. Một vài em thể hiện được khả năng
vượt quá mong đợi của chương trình ở vài môn
học, một vài em lại gặp bế tắc. Xây dựng cảm
giác cộng đồng có thể giúp giảm bớt những bế
tắc này.
Điều này thể hiện như sau, những học sinh lớn
hơn đã biết về những kiến thức những trẻ
nhỏ hơn đang học. Đây chính hội để trẻ
lớn trở thành giáo viên hướng dẫn trẻ nhỏ. Năm
học này, thầy Tellier để học sinh lớp 7 giúp học
sinh lớp 6 chuẩn bị ôn thi bài kiểm tra khu vực.
Thầy cho hay thầy muốn năm sau sẽ tiếp tục
thực hiện hình thức này.
Kristin Voss, cô giáo dạy ở Beausejour Early
Years ở Beausejour, MB, sử dụng mô hình “lính
mới - lính cũ” trong các lớp cô dạy. Gần như tất
cả các lớp ở trường đều có nhiều khối tích hợp,
ban quản trị trường đã rất thận trọng với quyết
định này. Cô một danh sách cho mỗi lớp về
những gì học trò mình làm được tốt, những học
sinh đó trở thành những “chuyên gia”. Khi các
học sinh có thắc mắc gì, các em sẽ phải hỏi ba
người bạn của mình trước khi đến hỏi cô. Điều
này giúp cho học sinh tạo niềm tin cho nhau.
18 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
“Ai cũng nhận được phần thưởng và ai cũng có
đó để tặng”, Voss giải thích. “Bạn thể
nhận được nhiều thứ từ món quà của người
khác, nhưng đồng thời, bạn cũng phải đóng góp
công sức để chia sẻ cho mọi người.”
Tuy nhiên cũng những điểm hạn chế nhất
định. Học sinh của Voss không thể liên tục
hỏi đi hỏi lại bạn mình để hỗ trợ mình. Nếu học
sinh cứ đi giúp bạn suốt thì sẽ lơ đãng nhiệm vụ
của bản thân. Phụ huynh thường lo lắng, cho
rằng những học sinh cần có hướng dẫn đặc biệt
vì không có khả năng học hoặc một vài nhu cầu
khác, có thể sẽ không nhận được đủ hỗ trợ cần
thiết khi học ở lớp nhiều trình độ. Tuy nhiên,
thực tế cho thấy việc tạo nên một cộng đồng
gồm nhiều lứa tuổi và giai đoạn phát triển có thể
giúp vấn đề này trở nên dễ dàng giải quyết hơn
với vài trường hợp.
Thường giáo viên khi dạy những lớp nhiều trình
độ xếp riêng những học sinh đã học hơn một
năm thành một nhóm. Điều này giúp xây dựng
mối quan hệ giữa giáo viên và học trò.
Một giáo viên cũng Beausejour Early Years,
Natalie Hlady cho hay “Bởi trên thực tế
nếu bạn dạy các em trong hai năm, bạn có thể
thực sự phát triển mối quan hệ đó, khi này, bạn
cảm thấy việc gặp rủi ro hay mắc lỗi không còn
là việc xấu cả”. (Cô Hlady cũng đã từng dạy
lớp nhiều trình độ những trường những
lớp học dạng này được lập ra vì những lý do về
ngân sách hay số lượng.)
Những học sinh hay xấu hổ có thêm thời gian để
trở nên thoải mái hơn với giáo viên. Giáo viên có
thể quan sát tốt hơn để thấy làm thế nào để học
sinh học tốt nhất. Họ không phải mất nhiều thời
gian để đánh giá học sinh vào giai đoạn cuối
bởi vì họ biết rõ học sinh đã học gì năm trước.
Những học sinh lớn hơn hiểu quy trình học
của lớp học, các em có thể hướng dẫn cho
học sinh lớp nhỏ hơn.
Điều này làm tăng niềm tin của học sinh. Việc
này “giúp học sinh vốn không phải là anh chị
lớn trong gia đình cơ hội trở thành đàn anh, đàn
chị trong lớp học”, cô Hlady nói giải thích
làm thế nào để những học sinh lớn có thể làm
tấm gương để thể hiện thái độ phù hợp. “Tất cả
học sinh đều tốt ở một vài mặt, có thể không về
phương diện học hành, nhưng lại thể hiện được
sự quan tâm và thân thiện, luôn giúp đỡ bạn bè,
những bạn như thế thể trở thành nhóm
trưởng trong lớp học.”
Nếu xảy ra tình trạng trong những lớp học gia
đình náo nhiệt, “anh chị em” làm phiền người
khác. Lúc này, giáo viên cần để ý đến cảm xúc
độ trưởng thành về mặt hội của các em
trong lớp, đặc biệt khi trong lớp nhóm học
sinh đang bước vào tuổi dậy thì. Giáo viên
thể gặp trở ngại với một học sinh trong hai năm
liên tiếp, lúc này theo như cô Tellier thì giáo
viên cần “tái thiết lập kỳ vọng của mình”. Học
sinh thường trưởng thành hơn sau kỳ nghỉ hè.
Đến giờ vẫn chưa rõ rằng tình trạng căng thẳng
ở Newfoundland và Labrador có lắng xuống sau
hay không. Các bậc phụ huynh vẫn đang
lên tiếng về những băn khoăn của họ với chính
phủ. Tuy nhiên, điều này lại đem đến cho giáo
viên một điểm lợi: qua đó có thể xác định được
những người có khả năng hỗ trợ trong lớp học.
Con trai của cô Charlene Richmond sẽ vào lớp
6 ở Beach Cove năm học tới, đây là một trong
những lớp triển khai học lớp có nhiều trình độ.
Dù cô không biết rõ năm học tới con trai sẽ học
như thế nào nhưng lạc quan với tình hình
hiện tại, thậm chí còn hỗ trợ giáo viên nếu
cần thiết. Cô nói rằng “Tôi sẽ ở trường để hỗ trợ
giáo viên bất cứ việc gì trong khả năng của tôi”.
19
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
TẠO RA MÔI TRƯỜNG LỚP HỌC TÍCH CỰC
1Bruce Van Stone2
Quỳnh Anh Lê dịch
một giáo viên, tôi biết rằng việc thiết lập và
duy trì một môi trường học tập tích cực, khoan
dung và tạo động lực cho tất cả học sinh là điều
quan trọng. Bầu không khí tích cực và hòa nhập
sẽ tạo cơ sở cho học sinh đạt được tiềm năng
tối đa. Trong suốt thời gian đi dạy, tôi đã vận
dụng nhiều chiến thuật giảng dạy như chia sẻ
với các bạn dưới đây:
Làm rõ với tất cả học sinh rằng các em
đều được yêu quý trân trọng, địa vị
sự khác biệt giữa mỗi người không
khiến các em bị đối xử khác biệt trong
lớp học.
● Gần gũi với tất cả học sinh, không chỉ
riêng với các học sinh ngoan.
1 Nguồn: How To Create A Positive Classroom Envi-
ronment: https://teachmag.com/archives/7295
2 Bruce Van Stone là chuyên gia giáo dục chuyên về
cảnh báo và ngăn chặn bạo lực học đường tại phòng Giáo dục
đào tạo và Giáo dục sớm New Brunswick. Bạn có thể liên hệ
Bruce theo địa chỉ: bruce.vanstone@gnb.ca.
● Không nhất thiết phải đưa học sinh
nghịch ngợm lên Ban Giám hiệu hay
Phòng riêng nếu không phải trường
hợp bất đắc dĩ.. Một phần của việc quản
lý lớp học là trông coi học sinh trong lớp
và khuyến khích mâu thuẫn ngay trong
lớp học. Luôn ghi nhớ mối quan hệ với
học sinh hằng ngày và rằng học sinh sẽ
đặt niềm tin vào giáo viên và sẵn sàng
hợp tác với giáo viên chủ nhiệm của
mình hơn là các cán bộ nhân viên khác
của nhà trường.
● Thường xuyên thị phạm các kỹ năng xã
hội tích cực như cảm thông, bao dung,
kiên trì nhẫn nại, hướng tới giải quyết
vấn đề và giao tiếp hiệu quả.
● Đừng bao giờ nhìn một hành vi để đánh
giá cả một đứa trẻ và không “dán nhãn”
hoặc có thành kiến về học sinh.
● Thường xuyên điểm danh học sinh..
● Áp dụng các kĩ thuật thư giãn dành cho
cả tập thể lớp.
pxhere.com
20 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
● Đảm bảo mỗi học sinh có một trách
nhiệm hoặc vai trò nào đó trong lớp
học để chúng cảm thấy được hòa nhập
trong môi trường tập thể.
● Trao đổi riêng với cá nhân học sinh khi
Tạo ra nhiều hoạt động khác nhau để
học sinh tự do thể hiện bản thân như vẽ,
hát, kí họa, kịch và viết sáng tạo.
● Thiết lập các quy tắc lớp học ràng
cùng toàn bộ học sinh đảm bảo
chúng có trách nhiệm duy trì các quy tắc
đó cùng giáo viên
● Trao cho học sinh quyền lựa chọn
theo dõi những công việc mà chúng có
thể làm.
● Không so sánh các học sinh với nhau.
● Luôn lạc quan với năng lực của từng
học sinh.
Thường xuyên phản tư bất cứ đánh giá
về nhân một học sinh nào đó. Giáo
viên dễ có ác cảm với học sinh thường
xuyên phá phách hay khó bảo trong lớp
học nhưng đừng bao giờ cho phép bản
thân mình trở nên mất bình tĩnh như
vậy.
Hiểu rõ năng lực và những gì bản thân
có thể làm được. Bạn không thể vừa là
thầy cô, vừa cha mẹ, cán bộ xã hội,
nhà tư vấn tâm lý, cảnh sát, v.v.. trước
mặt học sinh của mình. Hãy đề xuất sự
hỗ trợ từ các cán bộ khác trong trường
khi cần thiết.
21
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
CÁC MỐI QUAN HỆ CŨNG
NHỮNG GIÁO CỤ ĐẮC LỰC
Craig Bouvier2 | Kim Ngân dịch
Tôi đã đầu hàng không thể đếm được bao nhiêu
lần tôi được nói rằng quy tắc, luật lệ thiếu
đi các mối quan hệ thì sẽ dẫn đến sự nổi loạn.
Ngày này, tuy vậy, mối quan hệ với học sinh có
vẻ như đang bị lo ngại thay vì nên được ủng hộ.
Trong nhiều năm, khá tình cờ, tôi đã phát hiện
ra rằng giới luật này từ những ngày xa xưa đã
rất quan trọng và cần thiết cho các quy tắc trong
lớp học và với bản thân việc học. Các mối quan
hệ là một phần thiết yếu của việc học, đặc biệt
mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh.
Các nhà giáo dục giao tiếp với học sinh của
mình theo hai cách quan trọng: nhân và phi
nhân. Không khó để nhận ra rằng mối giao
1 Dịch từ bản Tiếng Anh: Relationships as Teaching
Tools
2 Craig L.Bouvier là Hiệu trưởng trường Shannon
Forest Christian ở Greenville, SC.
tiếp cá nhân thường tốt hơn là cách giao tiếp phi
nhân. Ở vị trí một người cha, mỗi hướng
dẫn tôi đưa ra cho các con của mình thường bị
chi phối bởi nhiều yếu tố, nhưng một trong số
những yếu tố quan trọng nhất đó là mối quan hệ
của chính tôi bọn trẻ. Tôi cha của chúng,
vì vậy, sự liên quan giữa chúng tôi đủ lớn để là
động lực cho các cháu lắng nghe lời tôi (Hmm,
hoặc ít nhất là sẽ lắng nghe hầu hết thời gian).
vị trí là giáo viên, chúng ta thường xuyên
phàn nàn rằng học sinh của mình không chịu
lắng nghe, mơ mộng lơ đãng quá nhiều, và nói
chuyện khi giáo viên đang nói. chúng ta
nhận ra hay không thì đây chính là những ví dụ
về việc học sinh giao tiếp với môi trường học
tập của các em, nhưng thông thường, bản thân
giáo viên lại khá hoang mang khi sự tương tác
lại đi theo một hướng không được tích cực cho
lắm. Và điều tôi nhận ra là, tôi luôn yêu cầu học
pxhere.com
22 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
sinh có sự tương tác trong khi đã vốn đang
diễn ra rồi. Vấn đề ở đây không phải là sự thiếu
tương tác của học sinh mà là ở việc làm thế nào
để giáo viên trở thành một nhân tố ý nghĩa của
quá trình giao lưu tương tác đó.
Ban đầu, tôi đã cố kiểm soát lớp học của mình
chỉ bằng giọng nói. Tôi sẽ nâng tông giọng
nói to hơn khi muốn học sinh ngồi im ổn định, và
hạ thấp giọng xuống khi đã tương đối hài lòng
với thái độ của các em. điều tôi không biết
rằng, con người tiếp nhận thông tin thông qua
các giác quan của mình một cách cân bằng với
nhau, chỉ trừ một ngoại lệ: thính giác. Theo Pa-
tricia Wolfe, người đã viết cuốn sách “Brain Mat-
ters: Translating Research into Classroom Prac-
tice”, thì các tín hiệu nghe được sẽ hơi khác biệt
một chút. Chúng được ghi nhận lại giống như
một loại trí nhớ ngân vang mãi và cần nhiều thời
gian để xử lý hơn các tín hiệu từ các giác quan
khác. Khi chỉ sử dụng giọng nói, tôi đã không
nhận ra điều này - rằng tôi chỉ đang áp dụng giác
quan yếu nhất để kiểm soát lớp học.
Vậy thì, đâu là đáp án cho sự tương tác tích cực
với học sinh để các em có thể học tập hiệu quả?
Với tôi, chỉ có một cụm từ: sự thân thuộc! Tôi biết
mọi người đang nghĩ gì, “Tất nhiên mối quan hệ
của tôi với học sinh rất tốt đẹp chứ”, tôi tin
điều đó, nhưng tôi đang biện luận cho một khái
niệm khác mà tôi gọi là Relational Intentionality
(mối quan hệ đối ứng mục đích). Khái niệm
này có nghĩa là cần phải duy trì uy tín của chúng
ta đồng thời xây dựng mối quan hệ tốt với
học sinh. Nó cũng liên quan đến các hoạt động
chủ đích với học sinh của bạn. Bạn thể
liên tưởng khái niệm này như một phần của
kế hoạch hướng dẫn học sinh. Các mối quan hệ
tốt đẹp giữa giáo viên và học sinh chính là hình
mẫu tốt nhất cho sự tôn trọng và hợp tác của cả
hai bên.
Mối quan hệ đối ứng có mục đích việc chắc
chắn rằng bạn thuộc tên học sinh của mình.
Đó việc chúng ta sử dụng các cụm từ như
“please” hay “cảm ơn” trong mọi tình huống mặc
cho sự hồi đáp của các bạn học sinh như thế
nào. Khái niệm này cũng được thể hiện qua việc
chúng ta gọi các em học sinh bằng danh xưng
“Miss” hoặc “Sir”. Đó còn là khi chúng ta thực sự
muốn tìm hiểu chi tiết về cuộc sống của các em,
hay là nói lời cảm ơn khi các em có hành động
tử tế. Cũng có thể mối quan hệ đối ứng có mục
đích là khi chúng ta thể tìm ra những thành
tựu của học sinh để cân bằng lại với những kết
quả chưa được tốt lắm của các em. Việc thấu
hiểu rằng học sinh vẫn là những đứa trẻ và cho
phép các em được thực sự là trẻ con. Ở vị trí là
một giáo viên, thông qua mối quan hệ đối ứng
có mục đích, bạn đang tạo lập hình mẫu về mối
quan hệ thân thiết bạn muốn xây dựng với các
em học sinh, và cách thức để các em kết nối tốt
hơn với thế giới của riêng mình đó, giáo
viên chính là người hướng dẫn.
Một lần nữa, mối quan hệ đối ứng có mục đích
không phải chỉ đơn giản là trở thành bạn bè với
học sinh của mình, mà hơn thế nữa, đó là việc
xây dựng mối quan hệ sâu sắc hơn cả tình bạn.
Tôi đã từng một đồng nghiệp tự thông
báo trong bữa tiệc trao giải rằng anh ấy sẽ rất
nhớ hai em học sinh lớp 12 tốt nghiệp năm đó.
Trong bài phát biểu cảm động của mình, đồng
nghiệp của tôi đã vài lần nhắc đến hai em đó
“bạn thân”. Sau buổi tối hôm đó, tôi kéo anh ta
ra một góc và nhẹ nhàng nhắc nhở rằng, là một
người đàn ông 34 tuổi đã lập gia đình 2
con thì việc hô hào cho cả thế giới biết bạn thân
của mình là hai học sinh 17 tuổi thì không phải
việc khôn ngoan cho lắm. Việc trở thành bạn bè
với học sinh của mình, đặc biệt trong bối cảnh
văn hóa ngày nay, một việc khá mạo hiểm.
Tình bạn được xây dựng dựa trên sự bình đẳng
sự tương đồng, còn việc dạy dỗ thì không
như vậy.
23
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Thông thường, các bạn học sinh sẽ mất tập trung
khi phải học một khái niệm gì đó khó. Các em có
thể sẽ quay sang nói chuyện với bạn bên cạnh,
hoặc lơ đãng mơ mộng về chuyện khác. Có rất
nhiều các chủ đề trong giáo dục hoặc cuộc sống
không có các ví dụ thực tế, dễ hiểu mà lại trừu
tượng và mơ hồ. Trong các trường hợp này,
việc học sẽ rất bị phụ thuộc vào mối quan hệ
giữa người dạy học sinh. Chính mối liên hệ
này sẽ cung cấp những kinh nghiệm hữu hình
cần thiết để minh họa cho các khái niệm trừu
tượng. Khi các bạn học sinh nâng cấp dần
học thêm nhiều kiến thức khó và trừu tượng hơn
nữa, thì mối quan hệ với mọi người có thể sẽ là
một trong những yếu tố cụ thể duy nhất trong
việc học của các em. Chúng ta đều biết rằng
việc truyền đạt các quy tắc, luật lệ mà không
có mối quan hệ thân thiết thường dẫn đến việc
chống đối, và điều tương tự cũng thể được
áp dụng cho việc học và cuộc sống. Những luật
lệ đó thể cần một số điều chỉnh, nhưng
thông điệp cần được truyền tải thì không: Các
mối quan hệ luôn rất cần thiết đối với việc học
và cuộc sống.
24 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 12 - 2019
Bởi Adam Stone | Tâm Huy Ngô dịch
Đối với giáo viên K-12, trẻ có biểu hiện rối loạn
thiếu tập trung/hiếu động thái quá (ADHD - at-
tention-decit/hyperactivity disorder) có thể là
một thách thức đáng kể trong lớp học.
Mặc các triệu chứng của ADHD thể rất
khác nhau, nhưng việc không thể điều chỉnh
chức năng điều hành thường xuất hiện theo hai
cách: Thông qua sự không tập trung thông
qua các hành động hiếu động hoặc bốc đồng.
● Theo định nghĩa của Mayo Clinic, việc
không thể tập trung của rối loạn ADHD có
thể bao gồm việc không chú ý kỹ đến các
chi tiết, khó tập trung hoặc gặp khó khăn
khi làm theo hướng dẫn. Trẻ ADHD gặp
khó khăn trong việc tổ chức thể dễ
dàng bị xao nhãng.
● Tăng động và bốc đồng có thể biểu lộ dưới
các hình thức bồn chồn hoặc quấy phá. Trẻ
em có thể gặp khó khăn khi ngồi yên hoặc
thể chạy xung quanh hoặc leo trèo
các tình huống mà chúng thấy không hợp
lý. Trẻ có thể nói quá nhiều, thốt ra câu trả
lời hoặc ngắt lời người khác.
Khi kết hợp với nhau, những hành vi này có thể
gây ra chút phiền toái hay đôi khi cả một vấn đề
lớn. Đối với giáo viên - người phải chú ý đến cả
lớp, thì học sinh ADHD có thể sẽ nhận được sự
chú ý nhiều nhất bởi chúng thường rất ồn ào,
hoặc cũng có thể tách ra vào một góc riêng khỏi
cả lớp khi đang cố gắng “kiểm soát” hành vi của
mình một cách vô ích.
ADHD: TRẺ NGỖ NGƯỢC
HAY VẤN ĐỀ
VỀ THẦN KINH?
amazonaws.com/stockfreedom
25
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 12 - 2019
Cải tổ giáo dục
Hơn 6 triệu trẻ em Mỹ đã được chẩn đoán mắc
rối loại ADHD, theo Trung tâm Tài nguyên A.D.D.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh
ước tính rằng 5% trong tổng số trẻ em mắc rối
loạn ADHD. Các chuyên gia chỉ ra rất nhiều
chiến lược trong lớp học đã hỗ trợ thành công
những học sinh này.
Trẻ ngỗ ngược hay có vấn đề về thần kinh?
Đối với nhiều nhà giáo dục, bước đầu tiên trong
việc dạy cho học sinh ADHD sẽ phải đi kèm với
việc nhận thức rằng những đứa trẻ đó không cố
tình phá quấy có chủ đích - Chúng không “xấu”
theo cách hiểu thông thường.
Elaine Taylor-Klaus, CEO của trung tâm đào
tạo tài nghiên ImpactADHD.com nói rằng: “Khi
chúng ta nhìn thấy một hành vi không muốn
trong lớp học, chúng ta thường có xu hướng
đánh giá học sinh đó là nghịch ngợm: Thằng bé
sẽ không lắng nghe mình, không học hành
gì cả. Khi đó bạn cần phải đặt câu hỏi: Học sinh
này liệu đang nghịch ngợm hay vấn đề về
thần kinh?
Rối loạn ADHD được đánh dấu bằng khả năng
điều chỉnh chức năng điều hành. Điều này có ng-
hĩa là những đứa trẻ ADHD không cố tình hành
động phá quấy, chúng chỉ thực sự không kiểm
soát được hành vi của mình. Khi hiểu được điều
này, một nhà giáo dục mới có thể bắt đầu vạch
chiến lược dạy học.
Taylor Taylor-Klaus nói rằng: “Nếu chúng ta bắt
đầu với giả định rằng các học sinh ADHD không
thể làm được một việc nào đó, hoặc chúng chưa
thể làm được, thì hãy nói: OK, Em học sinh đó
có thể làm gì bây giờ? Người giáo viên cần
phải thừa nhận rằng sẽ rất khó khăn đối với trẻ
ADHD, phải tình thương đối với các em
học sinh đó, và từ đó tìm ra những việc mà các
em có thể làm. Những đứa trẻ ADHD cần có một
chiến thắng. Bởi các em thường luôn cảm thấy
mình không thể làm tốt được việc cả, thế
người giáo viên cần hướng cho các em cách để
dẫn đến thành công, để thấy rằng các em có thể
làm được và thành công là điều có thể xảy ra đối
với các em.
Lấy ví dụ, Taylor-Klaus dẫn ra một bối cảnh
không quá phổ biến của một học sinh luôn gây
trở ngại, khó tính, và làm các bạn khác mất tập
trung. Thay đi thẳng vào việc ép em đó vào
kỷ luật nề nếp, cô ủng hộ cách tiếp cận ban đầu
nhẹ nhàng hơn.
nói: “Bạn hãy gọi em học sinh lên bục giáo
viên và nói chuyện. Tìm hiểu những gì đang
diễn ra. Lắng nghe học sinh. Nếu chúng đang
căng thẳng, giáo viên có thể giảm kỳ vọng của
mình trong buổi học hôm đó. Khi đó, bạn có thể
khuếch tán những rối loạn cảm xúc để các
em học sinh khác tiếp tục bài học”.
Một số người thể coi cách giải quyết này
hạ thấp tiêu chuẩn ứng xử, nhưng Taylor-Klaus
nói rằng cách tiếp cận này cần thiết và hiệu
quả để xử lý tình huống đó.
Cô nói rằng “Nếu rối loạn ADHD được kích hoạt,
bạn không thể giả vờ rằng kích hoạt đó không
tồn tại và cố bỏ qua nó, bởi vì các học sinh đó
sẽ không cởi mở mở để sẵn sàng học. Bạn cần
phải hiểu được tình trạng của đứa trẻ nâng
dần các tiêu chuẩn từ đó
Khi khai thác sâu hơn, một số chuyên gia nói
rằng phương pháp tiếp cận bản này có thể
được củng cố bởi các yếu tố chính nhất định
của tổ chức lớp học.
Sắp xếp quy củ
Understood.org, nguồn tài nguyên phi lợi nhuận
được tạo bởi Trung tâm Quốc gia về Learning
Disabilities, Cố vấn Cao cấp Bob Cunningham
đưa ra ba cách chính để giáo viên định hướng
để giúp trẻ mắc ADHD đạt được thành công.
26 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
Ngoài các chiến lược cụ thể này, Cickyham cũng
đưa ra các hướng dẫn dựa trên hiểu biết mới
nổi về ADHD. Các nhà nghiên cứu đã theo dõi
rối loạn này chặt chẽ trong hơn một thập kỷ
họ đang thúc giục những thay đổi trong cách hệ
thống giáo dục K-12 nhìn nhận tình hình. Điểm
mấu chốt: Tốt nhất là bắt đầu sớm.
Cunningham nói: “Mười năm trước, chúng ta
đã từng được bảo rằng các em học sinh sẽ
thể vượt qua được ADHD. Trong khi các triệu
chứng của ADHD thể tiến triển tốt hơn - sự
tập trung có thể được cải thiện, sự hài lòng nhất
thời thể cải thiện - thì rối loạn ADHD thực sự vẫn
không biến mất. Những điều đó vẫn cản trở và
tác động đến cuộc sống hàng ngày của học sinh
ADHD.”
Trong trường hợp đó, ông nói rằng “thì chúng
tôi đã biết cách tiếp cận “chờ đợi và xem” không
còn là một chiến lược hiệu quả nữa. Điều đó có
nghĩa là trẻ cần phát triển chiến lược đối phó từ
sớm. Những chiến lược này không tự đến một
cách tự nhiên. Điều đó đặt gánh nặng áp lực
lớn hơn lên vai mọi giáo viên, vì họ phải làm tất
cả những thể để hỗ trợ những học sinh
ADHD.”
Nhiều người sẽ thấy rằng đặt những học sinh
này vào một con đường vững chắc bắt đầu bằng
việc giúp các em quản lý các hành vi có vấn đề
nhất của mình.
Miền hành vi
Có những bước chính mà giáo viên có thể thực
hiện để giúp học sinh tự kiểm soát các triệu
chứng ADHD ảnh hưởng đến hành vi trong lớp
học của mình.
Marlyn Press, Trợ lý Giáo sư tại Trường Đại học
Giáo dục Touro College New York cho biết:
“Thói quen hàng ngày là yếu tố then chốt, cũng
giống như việc các em thường xuyên được giải
Không gian đóng vai trò quan trọng.
Bob Cunningham nói rằng “Hãy chắc chắn
rằng học sinh đang ngồi chỗ mà bạn
thể quan sát được em học sinh đó
cũng có thể nhìn thấy bạn, để bạn có thể ra
tín hiệu khi thấy học sinh đang không tập
trung. Bản thân học sinh cũng có thể báo
hiệu cho giáo viên khi gặp khó khăn trong
việc ngồi yên và cần giải lao”.
Chia nhỏ mọi thứ. Một khía cạnh cơ bản
của ADHD là việc không có khả năng duy
trì sự tập trung. Khi nhận thức được điều
này, sẽ rất hợp lý khi giáo viên tổ chức
kế hoạch bài học thành những phần nhỏ
mà học sinh có thể kiểm soát được. Cun-
ningham nói rằng: “Các học sinh AHDH sẽ
học tập dễ dàng hơn nếu giáo viên chia
các hoạt động ra thành những phần ngắn
hơn, vì thế giáo viên có thể chuyển từ hoạt
động này sang hoạt động khác nhanh hơn
một chút, các nhóm cũng có thể hoán đổi
cho nhau, giáo viên có thể làm được nhiều
hoạt động ở những khu vực khác nhau
trong lớp học. Bất kỳ giáo viên nào cũng có
thể làm điều đó nếu họ sử dụng các chiến
lược phân nhóm tốt”.
Tận dụng công nghệ. Đối với một số trẻ,
sử dụng điện thoại trong lớp có thể sẽ gây
xao nhãng. Nhưng với học sinh ADHD,
điện thoại thực sự một công cụ giá
trị. Cunningham nói: “Nếu bạn dạy một lớp
trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông,
hãy cho phép học sinh sử dụng điện thoại.
Những vật dụng như máy ảnh, lịch sổ
tay có thể là cứu cánh cho những học
sinh ADHD. Tính tương tác của các đồ vật
đó giúp học sinh thể tham gia học tập
hiệu quả. Đồng thời chúng cũng giúp các
em không bỏ lỡ các chi tiết trong bài học,
nếu học sinh có thể chụp lại ảnh của bảng
hoặc có thể ghi lại những gì giáo viên đang
giảng”.
27
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
lao để được đứng dậy và di chuyển xung quanh.
Các công cụ tổ chức rất cần có. Press nói:
“Hãy tạo một lịch để quản lý thời gian và liên tục
thảo luận về các bài tập và ngày nộp bài. Đăng
các quy tắc ứng xử cùng với hậu quả và xem xét
chúng định kỳ.”
Những lời nhắc trực quan liên tục này giúp học
sinh luôn để tâm đến những kỳ vọng, mà không
đặt giáo viên vào vị trí phải đưa ra những lời
nhắc nhở liên tục.
Tham gia hòa đồng một công cụ cơ bản
khác. Press nói: “Hãy giao cho học sinh ADD/
ADHD những nhiệm vụ đặc biệt để chúng cảm
thấy mình đặc biệt và không có thời gian để sao
nhãng”. Điều này đặc biệt đúng khi có việc phá
vỡ thói quen, chẳng hạn như việc tập trung
diễn tập cứu hỏa.”Hãy cung cấp nhiều thông báo
nâng cao cho các sự kiện đặc biệt. Thời gian
chuyển tiếp là thời điểm khó khăn cho tất cả các
học sinh đặc biệt thách thức đối với các
học sinh vấn đề về sự tập trung. Hãy nhắc
nhở học sinh về những gì sắp diễn ra, những tài
liệu cần thiết và phải đi đâu.
Có một cách khác để xem xét góc độ xã hội của
rối loạn ADHD. Thay chỉ nhìn vào khả năng
hòa đồng hay hòa nhập của học sinh, điều quan
trọng là phải xem xét và cố gắng giảm thiểu các
hậu quả xã hội đối với các học sinh mắc rối loạn
ADHD khiến các em bị khác biệt.
Shannon Johnson, Nhà thiết kế Chương trình
Giảng dạy Cao cấp tại JumpStart, một nhà phát
triển các trò chơi dựa trên học tập cho trẻ em,
nói rằng: “Có những lúc học sinh ADHD thể
gây chuyện trong giữa giờ học, và khiến các bạn
học khác lo lắng hoặc thậm chí cười nhạo học
sinh đó. Điều quan trọng là chúng ta với cương
vị giáo viên phải phải là người chủ động khi
những vấn đề xã hội xảy ra trong lớp.”
Johnson tả các trò chơi hợp tác, dựa trên
công nghệ như là một biện pháp có thể giúp các
học sinh ADHD khi bị lúng túng về mặt xã hội.
nói: “Giáo viên có thể ghép cặp học sinh ADD/
ADHD với một học sinh bình tĩnh và hay giúp đỡ
bạn để các em thể chơi trò chơi cùng nhau.
Các trò chơi nhiều người chơi khuyến khích học
sinh làm việc cùng nhau để giải quyết vấn đề
giúp đỡ lẫn nhau. Chúng tôi đã thấy sự gia tăng
ý thức về cộng đồng trong lớp học từ việc chơi
các trò chơi hợp tác.
Trong khi là người đề xướng công nghệ, John-
son ủng hộ quan điểm rằng khóa học hành động
đầu tiên trong giảng dạy cho học sinh ADHD cần
mang tính cá nhân. ADHD là một rối loạn có đặc
thù riêng theo từng cá nhân và những học sinh
ADHD sẽ học tốt nhất khi giáo viên có cách tiếp
cận theo từng cá nhân và sắc thái của mỗi học
sinh.
nói: “Cái đẹp của việc dạy học chúng ta
dành nhiều thời gian cho học sinh của mình,
điều đó cho chúng ta hội để làm quen với
các em. Giáo viên nên tập trung vào việc tìm
hiểu những động lực thúc đẩy học sinh muốn
đạt được. Hãy chú ý đến tín hiệu từ các sinh
viên có vấn đề với sự tập trung và xây dựng mối
quan hệ với các em để chúng cảm thấy thoải
mái khi cho giáo viên của mình biết khi chúng
đang gặp khó khăn.”
Case study:
Henry là một học sinh lớp 4 của tôi. Khi tôi gặp
cậu lần đầu khoảng 8 tháng trước, cậu
đứa trẻ hết sức tăng đông, gần như không thể
ngồi yên một chỗ mà không gào lên trong suốt
buổi học.
Với đặc điểm lớp học nhỏ (chỉ có 6 học sinh), tôi
có cơ hội tiếp xúc sâu với từng học sinh, từ đó
hiểu tính cách, khả năng, thiên hướng của từng
28 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
em. Đối với Henry, trong 6 tháng học đầu tiên,
cậu bé là học sinh ồn ào nhất lớp, không thể tự
làm những nhiệm vụ đơn giản mà thầy giao phó.
Đặc biệt, khi khó khăn, cậu tìm cách
tránh, không tự giải quyết phải nhờ đến sự
giúp đỡ của thầy hoặc bạn bè. Nếu các vấn đề
chưa được giải quyết kịp thời, cậu bé sẽ bứt rứt,
chạy nhảy liên tục chứ không thể ngồi bình tĩnh
và tự tìm ra cách làm. Thế nhưng khi được giúp
đỡ hay giảng giải, cậu bé lại không thể tập trung
lắng nghe các chi tiết, vì thế khi có vấn đề tương
tự, cậu cũng không biết tự giải quyết thế nào.
Nhận ra được tính cách và rối loạn ADHD của
Henry. Tôi không ép cậu bé phải nhớ tất cả các
nội dung bài học điều các bạn khác
thể làm được khá đơn giản. Thay vào đó,
mỗi buổi học, tôi chỉ hướng dẫn Henry một vài
bước cơ bản. Đồng thời, tôi cố gắng trấn an cậu
bé: “You can do it, don’t worry”, cho cậu những
hints để tự lần lại được trong trí nhớ đi
đến cách giải quyết: “If you want to teleport to
someone, you need to type “/” and then?”. Khi
cậu bé nhất quyết đòi được giúp ngay lập tức và
tỏ ra bứt rứt, bồn chồn vì không được đáp ứng
ngay, tôi nhìn vào mặt Henry và nói với cậu
bằng giọng bình tĩnh nhưng cương quyết: “Hen-
ry, I know you need my help now, but you have
to wait because I’m trying to help Evan rst. I
will tell you what to do right after I’m done with
Evan”. Với Henry, việc tạo lòng tin rất quan
trọng. Tôi luôn cố gắng để cậu bé tin rằng mình
thể hoàn thành được một nhiệm vụ nào đó,
hoặc tin rằng thầy sẽ quay lại giúp mình ngay
khi có thể.
Ngoài ra, tôi cho cậu bé làm việc nhóm cùng các
bạn khác. Đây là thời gian cậu bé cần tương tác,
phối hợp với các bạn, nhờ đó, khi trục trặc
hoặc khó khăn, cả nhóm có thể đưa ra cách giải
quyết và Henry sẽ học dần từ đó. Việc phải phối
hợp với các bạn cũng khiến tính cách của Henry
mềm hơn, bớt bồn chồn và chạy nhảy, bởi cậu
bé hiểu nếu muốn đạt được một mục tiêu nào đó
thì cần phải bình tĩnh làm từng bước, không thể
nóng vội nếu không sẽ làm hỏng sản phẩm của
cả nhóm và của chính mình.
Sau hơn 8 tháng đồng hành cùng Henry, đến
thời điểm hiện tại, tính cách cậu bé đã phần nào
hài hòa hơn. Mỗi khi cần sự giúp đỡ của ai đó,
cậu sẽ không gào lên, thay vào đó
thể nói nhẹ nhàng lịch sự: “Could you help
me with this please?” và chờ đến lượt của mình.
Hay khi mắc lỗi ảnh hưởng đến người khác, cậu
bé đã biết xin lỗi: “I’m sorry for that. I didn’t mean
to cause it”.
Mặc dù Henry vẫn còn một chặng đường dài để
hoàn thiện hơn về tính cách và giảm bớt rối loạn
ADHD, tôi tin rằng cậu sẽ thể cải thiện
được với sự trợ giúp kịp thời từ cha mẹ, bạn bè,
thầy cô.
29
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
Joshua Becker | Trung Hà dịch
Tiềm năng của trẻ em là thứ thú vị và hấp dẫn
nhất của tạo hóa”
– Ray L. Wilbur
Đồ chơi không chỉ đơn thuần là đồ để chơi. Đồ
chơi tạo nên những viên gạch nền móng cho
tương lai của trẻ. Chúng dạy trẻ về thế giới,
cả về chính bản thân trẻ. Chúng gửi đi những
thông điệp và truyền đạt những giá trị. Và vì thế,
phụ huynh thông thái sẽ nghĩ về việc mình muốn
xây dựng cho con một nền móng thế nào qua
những đồ chơi họ mua cho chúng.
Phụ huynh thông thái cũng sẽ nghĩ về số lượng
đồ chơi mà con họ được mua cho. Ngày nay, khi
mà những phòng ngủ hay phòng vui chơi trong
nhà luôn chứa đầy ắp đủ loại đồ chơi, phụ huynh
biết hoạch định sẽ biết hạn chế số đồ chơi
trẻ có thể chơi.
Họ hiểu rằng việc có ít đồ chơi hơn thực ra sẽ có
lợi cho con họ về lâu dài:
1. Trẻ sẽ học cách trở nên sáng tạo hơn.
Có quá nhiều đồ chơi làm trẻ không hoàn toàn
phát triển kĩ năng sáng tạo của mình. Hai nhân
viên chăm sóc sức khỏe cộng đồng (Strick
Schubert) đã thực hiện một thí nghiệm, trong
đó họ thuyết phục một lớp mầm non bỏ đi toàn
bộ số đồ chơi họ trong vòng 3 tháng. Mặc
dù trẻ cảm thấy chán chường trong suốt những
giai đoạn đầu, chúng lại nhanh chóng bắt đầu
tận dụng những thứ cơ bản xung quanh chúng
để tạo ra những trò chơi sử dụng trí tưởng
tượng của mình khi chơi.
2. Trẻ biết giữ tập trung lâu hơn. Khi trẻ được
tiếp xúc với quá nhiều đồ chơi, thời gian trẻ
thể giữ tập trung sẽ giảm xuống. Một đứa trẻ
hiếm khi biết trân trọng hoàn toàn món đồ chơi
trước mặt chúng khi có cả tá lựa chọn khác vẫn
đang chờ chúng ở trên giá đồ chơi.
TẠI SAO ÍT ĐỒ CHƠI HƠN LẠI TỐT HƠN CHO
CON BẠN
medium.com
30 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
3. Trẻ phát triển những kĩ năng hội tốt
hơn. Những trẻ ít đồ chơi hơn học được
cách phát triển những mối quan hệ hội với
những đứa trẻ khác, cũng như với người lớn.
Và nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những mối quan
hệ bạn bè từ thuở bé làm tăng khả năng thành
công trong học tập trong những tình huống
xã hội khi trẻ lớn lên.
4. Trẻ học được cách trách nhiệm hơn.
Khi trẻ có quá nhiều đồ chơi, sẽ dễ hiểu khi trẻ
không giữ gìn chúng cẩn thận. Trẻ sẽ không biết
trân trọng đồ chơi khi có một thứ đồ chơi khác
luôn sẵn sàng để thay thế. Nếu con bạn thường
xuyên làm hỏng đồ chơi, cứ tịch thu một vài món
đồ chơi đi. Rồi thằng bé sẽ học được bài học
cần.
5. Trẻ biết yêu thích việc đọc, viết và có hứng
thú với nghệ thuật. Ít đồ chơi hơn đồng nghĩa
với việc nhiều thời gian hơn cho đọc sách,
nghe nhạc, màu, vẽ tranh. Tình yêu với
nghệ thuật sẽ giúp trẻ biết trân trọng hơn những
vẻ đẹp, cảm xúc và sự liên kết trong thế giới của
chúng.
6. Trẻ trở nên linh hoạt hơn. Trong giáo dục,
học sinh không chỉ được cho sẵn câu trả lời cho
câu hỏi; chúng được cho cả những công cụ để
tìm ra câu trả lời. Trong việc vui chơi, nguyên tắc
tương tự cũng có thể được áp dụng. Ít đồ chơi
hơn buộc trẻ phải linh hoạt bằng cách giải quyết
vấn đề chỉ với những thứ có sẵn. Và linh hoạt là
một tài năng với vô vàn cơ hội để phát triển.
7. Trẻ ít cãi nhau hơn. Điều này nghe vẻ
‘ngược đời’. Nhiều phụ huynh tin rằng có nhiều
đồ chơi hơn sẽ dẫn tới ít cãi lộn hơn bởi có nhiều
sự lựa chọn hơn cho trẻ. Tuy nhiên, điều ngược
lại cũng đúng. Trẻ thường tranh nhau đồ chơi.
mỗi khi chúng ta giới thiệu chúng với một
món đồ chơi mới, chúng ta mở ra thêm một lý do
mới để chúng ‘tranh giành chủ quyền’ với nhau.
Mặt khác, khi trẻ có ít đồ chơi hơn, chúng sẽ bị
buộc phải chia sẻ, hợp tác, và chơi cùng nhau.
8. Trẻ học được tính kiên trì. Những trẻ
quá nhiều đồ chơi thường bỏ cuộc rất sớm. Nếu
chúng có một món đồ chơi mà chúng không biết
chơi, chúng sẽ nhanh chóng quẳng món đồ ấy
vào một xó để tìm tới món khác dễ hơn. Trẻ với
ít đồ chơi hơn học tính kiên trì, kiên nhẫn và sự
quyết tâm.
9. Trẻ trở nên ít ích kỉ hơn. Những trẻ luôn có
được mọi thứ chúng muốn tin rằng chúng có thể
được mọi thứ chúng muốn. Thái độ này sẽ
nhanh chóng dẫn tới một lối sống không lành
mạnh (và không tích cực).
10. Trẻ được trải nghiệm thiên nhiên nhiều
hơn. Những trẻ không có cả một căn phòng đầy
ắp đồ chơi thường chơi ở bên ngoài nhiều hơn
và có một sự trân trọng sâu sắc tới thiên nhiên.
Chúng cũng hay tham gia vào những hoạt động
thể chất nhiều hơn, đem lại cho chúng thể
khỏe mạnh hơn và hạnh phúc hơn.
11. Trẻ học được cách tìm thấy hạnh phúc
bên ngoài tiệm đồ chơi. Hạnh phúc và sự mãn
nguyện thực sự sẽ không bao giờ được tìm
thấy ở những gian hàng trong tiệm bán đồ chơi.
Những đứa trẻ được dạy rằng những nguyện
vọng của chúng có thể mua được bằng tiền sẽ
tin vào lời nói dối tương tự như bố mẹ của chúng
đã làm. Thay vào đó, trẻ em cần được khuyến
khích sống một cuộc sống khác với lối mòn ấy
để có thể tìm thấy hạnh phúc ở những điều vĩnh
cửu.
12. Trẻ gọn gàng và sạch sẽ hơn. Nếu bạn có
con, hẳn bạn biết đống đồ chơi của chúng có thể
nhanh chóng trải đầy khắp nhà. Ít đồ chơi hơn
đem lại một căn nhà ít bừa bộ hơn, sạch sẽ hơn
và tốt hơn cho sức khỏe.
31
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
Tina Barseghian | Lê Thanh Hằng dịch
Khi một học sinh nhận được điểm tốt, chiến
thắng một giải thưởng hoặc vẽ được một bức
tranh đẹp, chúng ta đều biết rằng thời điểm đó,
chúng ta không nên nói “Rất tốt!”. Ca ngợi thành
tích chứ không phải nỗ lực sẽ gây phản tác dụng.
Đối với trẻ em, “Rất tốt” có nghĩa là “Con rất thông
minh” hay “Con rất tài năng” đó những lời
khen ngợi dành cho khả năng vốn có, khả năng
bẩm sinh hoặc trí thông minh của trẻ. Nhưng
niềm kiêu hãnh lóe lên chớp nhoáng sẽ nhanh
chóng chìm sâu vào nỗi nghi ngờ khi trẻ trải qua
một thách thức nào đó lớn hơn và không thành
công ngay lập tức.
Những trẻ được ca ngợi là thông minh thường
quan tâm về điểm số, danh hiệu và giải thưởng
hơn so với những trẻ được ngợi ca nỗ lực,
theo báo cáo nổi tiếng của Stanford năm 1998
“Ảnh hưởng của trí thông minh ảnh hưởng
của lời khen ngợi” bởi Claudia Mueller và Carol
Dweck. Nghiên cứu chỉ ra rằng “sau khi thất bại,
[trẻ] cũng có biểu hiện ít kiên trì trong công việc,
ít thích thú với công việc và thực hiện nhiệm vụ
tệ hơn so với trẻ được khen ngợi do nỗ lực.”
Nhưng cũng có một tác dụng phụ khác: trẻ
được ca ngợi thông minh “sẽ coi đó một
đặc điểm cố định hơn trẻ được ca ngợi chăm
chỉ, và những trẻ này cũng tin rằng chăm chỉ
cần phải cải tiến.”
Tại sao điều đó không tốt? Bởi vì nói với trẻ rằng
trẻ thông minh khi nhận được điểm tốt sẽ khu-
yến khích trẻ tiếp tục tập trung vào điểm số hơn
Tất cả chúng ta đều thể trở nên
thông minh hơn trong mọi lĩnh vực?
32 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
quá trình học tập. Những trẻ này luôn muốn
giữ sự thông minh cho mình
Đằng sau trí thông minh
Trong nhiều năm gần đây, nghiên cứu về cách
thức học tập của não bộ được xây dựng trên
những nghiên cứu đó. “Làm thế nào chúng ta
biết được hình dáng của những gì chúng ta biết
và những gì chúng ta có thể làm được”, tác giả
Annie Murphy Paul viết trong mục Ý tưởng trên
tờ Thời báo (Time). “Những kiến thức và khả
năng của chúng ta chủ yếu được xác định không
chỉ bởi chỉ số IQ hay các thước đo trí thông minh
cố định khác, mà còn ở hiệu quả của quá trình
học tập của chúng ta: ta gọi nó là thương số học
tập (learning quotient).”
Quan điểm cho rằng ai cũng có thể học, bất kể
chỉ số IQ vốn của họ với sự nhấn mạnh
về quá trình, công việc, nỗ lực – là của Rodolfo
Mendoza-Denton, giáo sư tâm lý học tại Đại học
Berkeley.
Mendoza-Denton mở rộng ý tưởng về những
tác hại khi nhấn mạnh vào thành tích và trí thông
minh cũng thể gây hại tới phong cách học
tập (âm thanh, hình ảnh) hoặc “đa trí tuệ”, một
thuyết của giáo sư Howard Gardner, đại học
Harvard, phân biệt các loại trí thông mình của
người học người học: không gian, ngôn ngữ,
logic toán học..v.v.
Mendoza-Denton tin rằng nhấn mạnh vào “trí
thông minh tự nhiên” sẽ củng cố thêm niềm tin
rằng trẻ em tốt ở một số mặt, ngược lại, kém
một số mặt.
“Điều này phổ biến trong câu chuyện văn hóa,”
Mendoza-Denton cho biết tại Hội nghị đổi mới
học tập gần đây. “‘Tôi không phải là loại người
học này hay loại người học kia. Tôi rất giỏi ngôn
ngữ, nhưng không phải toán học. ”
Xa hơn, trẻ em thể nghĩ rằng nếu họ phải
chăm chỉ làm một việc gì đó, cũng có nghĩa là họ
không thông minh. “Đó là một lý thuyết về cách
thế giới hoạt động,” ông nói.
Một câu chuyện gần đây trên NPR hỗ trợ cho
thuyết của Mendoza-Denton. Mặc “đã
toàn bộ một ngành công nghiệp xây dựng dựa
trên phong cách học tập, thì cũng có” một ng-
hiên cứu xem xét lại phong cách học tập đã kh-
iến nhà tâm lý học Doug Rohrer tin rằng “không
có bằng chứng khoa học cho quan điểm này.”
“Chúng tôi đã không tìm thấy bằng chứng nào
từ một thí nghiệm đối chứng ngẫu nhiên, và cho
đến khi bằng chứng như vậy tồn tại, chúng tôi
không thể đề xuất rằng quan điểm ấy nên sử
dụng”, ông nói với NPR.
Nhà nghiên cứu khác đưa ra thêm quan điểm
nhiều khía cạnh hơn. Trong một câu chuyện
gần đây của California Watch, một nhà nghiên
cứu đặt câu hỏi về tác động của việc gọi ra khả
năng tự nhiên. “Rõ ràng, con người cả khả
năng đặc biệt lẫn năng khiếu. Một số người
khả năng thị giác tốt hơn, một số khả
năng thính giác tốt hơn “, giáo Hal Pashler
của UCSD, tác giả chính của báo cáo cho biết.
“Nhưng câu hỏi liệu thể dự đoán bất cứ
điều gì về cách thức hiệu quả nhất để dạy cho
họ. … Hoàn toàn thiếu bằng chứng cho những
luận điểm này.”
Điều này đã gây ra một cuộc tranh luận lớn
trong giới giáo dục bởi những người đặt câu hỏi
về động lực của những phong cách học tập đó.
Nhưng Mendoza-Denton cho rằng việc coi quan
điểm nhấn mạnh sự nỗ lực của trẻ quan trọng
tương đương, thậm chí hơn trí thông minh bẩm
sinh sẽ đặt học sinh vào con đường học tập tốt
nhất.
điều quan trọng không kém, đó sai lầm
cũng là một phần của việc học tập tốt. Như một
33
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
bài báo Wired gần đây báo cáo về lý do tại sao
học tập từ những sai lầm lại hiệu quả hơn, “quan
trọng những sẽ xảy ra tiếp theo.” Những
người có “hệ tư duy phát triển (growth mindset)”
– những người “tin rằng chúng ta có thể làm tốt
hơn hầu như bất cứ điều gì, miễn chúng ta
đầu tư thời gian và năng lượng cần thiết “- là sẽ
học được tốt hơn từ những sai lầm của họ.
Dĩ nhiên, điều này cũng đề cập đến vấn đề công
bằng hội, mang lại niềm tin khuôn mẫu về
giới tính và chủng tộc – người châu Á giỏi toán
hơn, cô gái này là kém hơn môn toán, người Mỹ
gốc Phi không làm tốt các bài kiểm tra như SAT.
Mendoza-Denton trích dẫn một số nghiên cứu
cho thấy sinh viên làm việc xứng đáng (hoặc
không) với những kỳ vọng đặt ra cho họ. Đó
do cách họ tự thực hiện.
Tất cả những điều này không phải để nói rằng
con người không có tài năng đặc biệt. “Mọi
người có những năng khiếu, đó là không thể phủ
nhận,” ông nói. “Có thể tất cả chúng ta không
phải thiên tài, nhưng chúng ta tất cả mọi
thứ để tiếp cận việc học tập.”
Vì vậy, những điều cha mẹ và giáo viên nên biết
từ đây là gì? Đó là những gì chúng ta có thể xem
xét để hỗ trợ việc học tập – ví dụ như tạo kết nối
với các giáo viên hoặc cố vấn, những lời khen
ngợi về làm việc chăm chỉ hơn điểm tốt – là thực
sự quan trọng đối với thành tích học tập của trẻ.
“Những điều đơn giản thể ảnh hưởng đến
thành tích một cách sâu sắc”.
34 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
Chad A.Donohue1 | Nhậm Doanh Doanh dịch
“Em có thể vào phòng vệ sinh được không ạ?”
Tôi đã suy nghĩ nhiều về câu hỏi phổ biến này,
thường được hỏi bởi trẻ em các trường học
trên toàn quốc. ràng việc các học sinh còn
nhỏ xin phép sử dụng nhà vệ sinh là hợp lý. Vấn
đề ở đây không phải việc sử dụng phòng vệ
sinh, mà là việc các em ra khỏi lớp học. Tôi hiểu
điều đó. Các giáo viên luôn cần biết những học
sinh bé nhỏ của mình đang ở đâu.
1 Chad Donohue là một giáo viên Tiếng
Anh tại trường trung học ở Monroe, Wash-
ington. Ông cũng dạy các khóa học đại học
về sáng tác và diễn thuyết trước công chúng.
Nhưng đến lúc nào thì học sinh có thể dừng việc
xin phép vào phòng vệ sinh? Trường trung học
dường như nơi hoàn hảo để thử nghiệm.
đây học sinh chuyển từ tiểu học sang phổ thông,
các giáo viên hội để thực hành phương
pháp GRC (giải phóng dần sự kiểm soát). Đặc
quyền nhà vệ sinh là một việc tốt để bắt đầu.
Tôi bắt đầu bằng cách dạy học sinh quy trình đi
vệ sinh. (Ồ đợi đã, nghe có vẻ không đúng lắm
nhỉ!).
Hít thở sâu. Làm lại nào.
Tôi bắt đầu bằng cách dạy học sinh quy trình đi
ra khỏi lớp để sử dụng phòng vệ sinh. Gần cửa
ra vào tôi treo một tấm biển đăng xuất/đăng nhập
LIỆU CẦN XIN PHÉP MỖI KHI ĐI VỆ SINH?
npr.org
35
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
trên một cái bảng tạm. Gắn với tấm biển là một
chiếc bút nối với một sợi dây. Phía trên tấm biển
một mảnh giấy thủ công được che bởi các
mẩu giấy ghi chú nhỏ. Mỗi mẩu ghi chú có đóng
dấu tên viết tắt của tôi. Những mẩu giấy này đã
trở thành những tấm thẻ thông hành dùng một
lần mà lũ trẻ cầm theo. Khi trở lại lớp học thì các
em lập tức tái chế những mẩu giấy đó. (Tôi đã
từ bỏ tấm thẻ thông hành vĩnh cửu từ nhiều năm
trước. Một người bạn đến thăm lớp học của tôi
và nhìn thấy ở cửa ra vào có treo một cái xẻng
nhựa xúc đá đã nói, “Các em học sinh đã mang
cái này vào phòng vệ sinh trong nhiều năm trời,
và cậu vẫn còn treo nó ở đây à?”)
Tiếp theo, quy trình. Luôn luôn có khả năng
xảy ra tình trạng khẩn cấp như “ngay bây giờ,
tránh ra cho tôi đi!”. Tôi hiểu điều đó. Tôi nói với
học sinh của mình là thực sự tôi chưa thấy tình
huống đó bao giờ, nhưng tôi biết thể
xảy ra.
Trừ những trường hợp khẩn cấp, dưới đây
quy trình tôi dùng cho việc sử dụng nhà vệ sinh:
Chọn một thời điểm thích hợp.
Kiểm tra tấm biển đăng xuất/đăng nhập
để chắc rằng không có ai đang đăng xuất.
Đăng xuất (ghi ngày, tên, thời gian, địa
điểm cần đến ví dụ wc hay nhà vệ sinh).
Lấy một mẩu giấy ghi chú và viết thời
gian lên đó.
Đi ngay đến nơi cần đến, và quay trở lại
ngay khi xong việc.
Đăng nhập lại bằng cách viết thời gian.
Quay trở lại chỗ ngồi của mình một cách
im lặng.
Sau đó tôi giải thích rằng miễn là quy trình trên
không bị lạm dụng, nó sẽ giữ nguyên một
chính sách của lớp học. “Là những học sinh lớp
7,” tôi nói, “các em đã đủ chín chắn để kiểm soát
những nhu cầu cá nhân của mình. Tôi không bị
yêu cầu phải xin phép đi vệ sinh trong các cuộc
họp, nếu các em thể xử một cách
trách nhiệm, thì các em cũng không bị yêu cầu
phải xin phép. Tôi muốn đối xử với các em như
những người lớn trẻ tuổi. Tôi muốn các em được
thoải mái trong lớp học này. Ngày nay chúng ta
nói rất nhiều về vấn đề cung cấp đủ nước cho
thể, tôi nhận ra điều đó nghĩa sẽ
có nhiều chuyến ghé thăm nhà vệ sinh hơn. Tôi
không muốn làm khó các em. Nếu các em
trách nhiệm, tôi không thể nghĩ ra bất kỳ do
nào để cấm các em sử dụng phòng vệ sinh.”
Phương pháp này cũng giúp loại bỏ những lần
xấu hổ khi phải xin phép trước mặt nhiều người.
Các em học sinh cấp hai đang thay đổi, cả về
tâm sinh lý, và nhu cầu sử dụng phòng vệ sinh
có thể do rất nhiều lý do. Làm gián đoạn lớp học
để xin phép thể gây xấu hổ và khiến lớp rối
loạn hơn. Ngoài ra, một chính sách bao quát đòi
hỏi sự cho phép bằng lời nói thể hơi thiếu
tính tinh tế về văn hóa, tùy thuộc vào đứa trẻ.
Cuối cùng, việc xin phép đi vệ sinh thể gây
khó khăn vô cùng cho những người hướng nội.
đúng, rất nhiều người trong chúng ta còn nhớ
cảnh kinh khủng trường, một đứa trẻ cô độc
đang ngồi bàn của bạn ấy, cúi đầu khóc,
một vũng nước tiểu trên sàn. Tôi không bao giờ
muốn chịu trách nhiệm cho việc đó.
giáo viên, chúng ta cần nhận thức một vài
điều:
Đầu tiên, hãy nhớ theo dõi bảng đăng
xuất/đăng nhập để chắc rằng học sinh
điền đầy đủ.
Theo dõi thiên hướng, xu thế, đặc biệt
nếu bạn đang để ý đến một học sinh cụ
thể nào đó. (Có phải em đó rời khỏi lớp
vào một giờ nhất định? lẽ giờ đó
cuộc gặp bí mật với một học sinh lớp
khác.) Ngoài ra, tốt nhất bạn nên lưu trữ
36 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
hoặc nộp lại các bảng đăng xuất/đăng
nhập, đề phòng trường hợp bạn cần xem
lại.
Theo dõi các tác động đến học tập. Học
sinh có lựa chọn đi vào thời điểm không
tốt? Các em bị lỡ mất nội dung quan
trọng? Điều này cũng nên dẫn đến một
cuộc thảo luận.
Tôi biết những hệ thống đó các em học
sinh được cho phép một số lần nhất định để vào
phòng vệ sinh trong một quý học, hoặc sẽ được
cấp phép sau đó nếu các em thực sự cần phải
đi ngay, nhưng những phương pháp đó có lẽ hơi
tùy tiện và không cần thiết. Tuy nhiên, chúng
những ví dụ về chính sách mà chúng ta đã tiếp
xúc từ rất lâu, nhưng lại dành quá ít thời gian để
thực hiện từ một góc nhìn công bằng hơn.
37
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Cải tổ giáo dục
Số 12 - 2019
Ban Biên tập Lộn xộn
Hoàng Anh Đức
Đặng Thanh Giang
Lê Thanh Hằng
Trần Trung Hà | ĐH Melbourne
Ngô Huy Tâm | Cleverlearn
Nguyễn Thị Hải Diệu | Wise Consulting Finland
Nguyễn Ngọc Diệp | Hogwarts
Dương Phú Việt Anh | Gateway
Ứng Minh Tuấn | THCS Nhật Tân - Tây Hồ - Hà Nội
Lê Quỳnh Anh | Hogwarts
Nguyễn Yến Chi | Đại học Hà Nội
Nguyễn Lê Kim Ngân | Hogwarts
Logo | Hà Dũng Hiệp
Chế bản | Quách Anh
Liên hệ: bientap@day-hoc.org
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Số 12 | tháng 6 - 2019
Ban Biên tập Lộn xộn
Học để Dạy,
và Dạy để Học
ResearchGate has not been able to resolve any citations for this publication.
ResearchGate has not been able to resolve any references for this publication.