BookPDF Available

Abstract

Quý độc giả thân mến, Dạy & Học số 9 hân hạnh được đem tới quý vị các bài viết xoay quanh chủ đề “Phong cách học”. Trong chuyên mục Học thế nào, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu: “Escape room - căn phòng bí ẩn” - một loại hình giải trí không chỉ đem lại những khoảng thời gian thư giãn, hồi hộp, mà còn có thể gắn kết với các mục tiêu học tập thế nào? Trẻ có thể phá bỏ các khuôn mẫu như thế nào, với các phong cách học tập khác nhau? Sự chuyển động trong lớp học được nhìn nhận ra sao? Trong cuộc sống, những hệ quả mà ta không lường trước được có thể ảnh hưởng tới quá trình học tập thế nào? Bên cạnh điểm nhấn là bài viết về “Mô hình Sư phạm 5E”, chuyên mục Dạy thế nào tiếp tục có sự góp mặt của một độc giả từ trường Đại học An Giang với bài viết về “Màu sắc - Sắc màu” trong chuyện dạy và học tiếng Anh, cũng như một gợi ý về cách tạo động lực cho các khoá học trực tuyến. Các nhà lãnh đạo giáo dục có thể sẽ thấy hứng thú với “Định hướng phát triển năng lực”, bài viết tóm lược phân tích của Katherin Casey (Tiến sĩ tại ĐH Harvard) về những chiến lược và ý tưởng lãnh đạo nhằm xây dựng một trường học chất lượng, bền vững, hướng tới phát triển năng lực cho học sinh và giáo viên. Đặc biệt, chuyên mục Góc nhìn số này có sự góp mặt của Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Bưu, với sự nhấn mạnh tầm quan trọng của nhiệm vụ “Chăm lo việc học tập thường xuyên cho người lớn”. Kính chúc quý vị có khoảng thời gian thú vị, Thay mặt Ban Biên tập Lộn xộn, Hoàng Anh Đức
PHONG CÁCH HỌC
Số 9 - tháng 03 | 2019
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
14
SỰ VẬN ĐỘNG TRONG LỚP HỌC
29
TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÁC KHOÁ HỌC
TRỰC TUYẾN
26
MÔ HÌNH SƯ PHẠM 5E
32
LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
TRONG SỐ NÀY
HỌC THẾ NÀO?
THÍCH ỨNG CÁC PHONG CÁCH HỌC TẬP KHÁC NHAU
VỚI “CĂN PHÒNG BÍ ẨN” .............................................06
Kim Kim dịch
CÁC PHONG CÁCH HỌC KHÁC NHAU -
ĐỂ CHO TRẺ “PHÁ BỎ KHUÔN MẪU” .........................10
Trâm Lê dịch
SỰ VẬN ĐỘNG TRONG LỚP HỌC ..................................... 14
Hà Thu dịch
ĐỊNH LUẬT VỀ NHỮNG HỆ QUẢ KHÔN LƯỜNG:
MỘT CÁCH HỌC TỐT HƠN ................................................ 17
Ngọc Lan dịch
DẠY THẾ NÀO?
ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỂ GỌI TÊN VÀ PH N LOẠI MÀU SẮC
TRONG TIẾNG VIỆT VÀ TIẾNG ANH ................................21
Lê Thái Hưng
MÔ HÌNH SƯ PHẠM 5E ................................................26
Nguyễn Ngọc Diệp dịch
TẠO ĐỘNG LỰC CHO CÁC KHOÁ HỌC
TRỰC TUYẾN ................................................................29
Lê Thanh Hằng tổng hợp
02 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 9 - 2019
QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
NĂNG LỰC ...................................................................32
Diệu Nguyễn dịch
GÓC NHÌN
CHĂM LO VIỆC HỌC TẬP THƯỜNG XUYÊN CHO NGƯỜI
LỚN, NHIỆM VỤ RẤT QUAN TRỌNG VÀ BỨC THIẾT
HIỆN NAY .....................................................................34
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Bưu
03
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 9 - 2019
Thể lệ gửi bài:
Quý thầy cô, anh chị có nội dung liên quan tới
Dạy Học muốn chia sẻ tới cộng đồng, xin
vui lòng gửi về Ban Biên tập Lộn xộn qua email
bientap@day-hoc.org
Cuối bài viết, tác giả xin vui lòng giới thiệu vài
nét về bản thân: Họ tên, nơi công tác, địa chỉ
liên lạc, số điện thoại, các chủ đề nghiên cứu
yêu thích…
Do thời gian và nhân sự có hạn, Ban Biên tập
xin phép chỉ liên hệ với các bài viết được chọn
đăng.
Tinh thần 4.0
Ban Biên tập quý thầy cô, anh chị gửi bài
cộng tác đều chia sẻ tinh thần 4.0, tức là:
- 0 lương
- 0 văn phòng
- 0 chuyên môn cao
- 0 giới hạn không gian - thời gian
Địa chỉ gửi bài:
Bientap@day-hoc.org
Chia sẻ:
Quý thầy cô, anh chị cảm thấy nội dung Dạy
Học ích, xin vui lòng chia sẻ tới bất kỳ
những ai quan tâm, kèm theo trích dẫn nguyên
vẹn và đầy đủ về nguồn gốc bài viết.
Mọi người nói về Dạy & Học
“Cảm ơn những người hùng bản địa
(local champions) như các bạn! Tôi nghĩ rằng
một ấn phẩm với định hướng thực hành như
Dạy & Học thể đem lại ảnh hưởng lớn,
không chỉ ở những lời khuyên thực tế dành
cho giáo viên, mà còn giúp nâng cao vị thế
nghề nghiệp và cách mà giáo viên suy nghĩ
về bản thân và công việc của mình.”
- TS Daniel Gray Wilson,
Giám đốc Đề án Số không,
Trường Giáo dục Harvard
04 Nội san Dạy học | Day-hoc.org Số 9 - 2019
Lời tựa
Quý độc giả thân mến,
Dạy & Học số 9 hân hạnh được đem tới quý vị các bài viết xoay quanh chủ đề “Phong
cách học”. Trong chuyên mục Học thế nào, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu: “Escape
room - căn phòng bí ẩn” - một loại hình giải trí không chỉ đem lại những khoảng thời gian
thư giãn, hồi hộp, mà còn thể gắn kết với các mục tiêu học tập thế nào? Trẻ có thể
phá bỏ các khuôn mẫu như thế nào, với các phong cách học tập khác nhau? Sự chuyển
động trong lớp học được nhìn nhận ra sao? Trong cuộc sống, những hệ quả mà ta không
lường trước được có thể ảnh hưởng tới quá trình học tập thế nào?
Bên cạnh điểm nhấn là bài viết về “Mô hình Sư phạm 5E”, chuyên mục Dạy thế nào tiếp
tục có sự góp mặt của một độc giả từ trường Đại học An Giang với bài viết về “Màu sắc
- Sắc màu” trong chuyện dạy và học tiếng Anh, cũng như một gợi ý về cách tạo động lực
cho các khoá học trực tuyến.
Các nhà lãnh đạo giáo dục có thể sẽ thấy hứng thú với “Định hướng phát triển năng lực”,
bài viết tóm lược phân tích của Katherin Casey (Tiến sĩ tại ĐH Harvard) về những chiến
lược và ý tưởng lãnh đạo nhằm xây dựng một trường học chất lượng, bền vững, hướng
tới phát triển năng lực cho học sinh và giáo viên.
Đặc biệt, chuyên mục Góc nhìn số này có sự góp mặt của Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình
Bưu, với sự nhấn mạnh tầm quan trọng của nhiệm vụ “Chăm lo việc học tập thường
xuyên cho người lớn”.Kính chúc quý vị có khoảng thời gian thú vị,
Thay mặt Ban Biên tập Lộn xộn,
Hoàng Anh Đức
05
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 9 - 2019
THÍCH ỨNG CÁC PHONG CÁCH
HỌC TẬP KHÁC NHAU VỚI
“CĂN PHÒNG BÍ ẨN”
medium.com
06 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
Martha Beach1/
Kim Kim dịch
“Khi còn đi học, tôi học không hề giỏi”, Paul Har-
vey tuyên bố. Ông nói thêm, “Tôi thuộc kiểu trẻ
con không thể nào ngồi yên và giữ trật tự trong
5 phút”. Vào lúc này hay lúc khác, chúng ta đều
đã và đang gặp những học sinh giống như vậy,
thậm chí có thể bạn cũng đang có một học sinh
1 Tựa gốc: Escape Rooms: Catering To Dier-
ent Learning Styles, từ Teachmag: http://teachmag.
com/archives/10683
như vậy trong lớp học của mình ngay bây giờ.
Paul giãi bày, “Tôi không hề ngốc nghếch, chỉ
tôi không thấy hứng thú phát triển trong
phạm vi lớp học”. đây một điều hết sức
bình thường. Một số người chỉ đơn giản là thấy
rằng, họ khó có thể học tốt bằng cách ngồi yên
nghe giảng theo hình thức học truyền thống. Đó
chính do sao Harvey đồng sáng lập ra
Mobile Escape để mang các trò chơi và niềm vui
đến các trường học ở Calgary.
Escape rooms - Căn phòng bí ẩn là các trò chơi
khám phá theo nhóm mà trong đó, người tham
gia sẽ bị khóa trong 1 căn phòng và phải cố
gắng mở khóa căn phòng đó bằng cách giải các
câu đố hoặc các ẩn trong một khoảng thời
gian quy định. Các vấn đề cần được giải mã có
thể là từ vựng, hình ảnh, toán học, kỹ thuật hoặc
các vấn đề khác. Người chơi có thể sử dụng các
chiến lược, sự tìm tòi khám phá, duy phản
biện, kỹ năng làm việc nhóm gợi ý có trong
căn phòng đó. Chuỗi trò chơi này đã được mở
rộng trước tiên ở Châu Âu và Châu Á trước khi
được giới thiệu tại Canada. Đến nay, Escape
room đã có 5 năm phát triển ở Canada.
Ban đầu, Escape Room được sử dụng như một
hoạt động xây dựng đội nhóm dành cho người
lớn, nhưng một số công ty ở Canada đã tận
dụng các trò chơi khám phá giải đố đầy thú vị
linh hoạt này để sáng tạo ra chương trình
“Escape room” dành cho học sinh. “Các bạn học
sinh, một cách đột ngột, được khuyến khích tự
lực cánh sinh và tự mày mò khám phá,” Harvey
nói.
Escape room đem đến rất nhiều lợi ích, thể
kể đến như: Học tập gợi mở (học tập theo truy
vấn - Inquiry-based learning), tham gia trải ng-
hiệm trực tiếp, khuyến khích sự sáng tạo “game
hóa” (marker-based gamication creation pro-
cess), cũng như là có thể đáp ứng nhiều phong
cách học khác nhau trong cùng một thời điểm.
07
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
Điều này đặc biệt hữu ích cho các bạn học sinh
đang phải vật lộn trong môi trường học tập
truyền thống. Các căn phòng được trang trí theo
phong cách đa môn/ngành và có chủ đích nhấn
mạnh về sự đa dạng trong suy nghĩ. “Chúng
(Escape rooms) yêu cầu lối tư duy phong phú
cho phép nhiều phương cách học được diễn ra
đồng thời,” Harvey giải thích như vậy. Tuyệt vời
hơn nữa, đó là giáo viên không cần phải soạn 6
giáo án cho 6 trình độ/ sở thích học khác nhau.
Theo Harvey thì, “Escape rooms sẽ 6 cách
thức để tiếp cận cùng 1 vấn đề”. Một bạn học
sinh nghiêng về việc đọc-hiểu-viết có thể phán
đoán dựa vào các dòng chữ trên tường, còn bạn
khác với xu hướng học tập thiên về kỹ thuật và
những thứ ràng lại thể tìm cách để vận
hành máy móc.
Không thể chỉ vì “Căn phòng bí ẩn” chứa đựng
các câu đố và trò chơi mà chúng ta nghĩ rằng nó
dễ dàng. “Chúng tôi luôn hứng thú nói về việc
không thành công”, Harvey nói. Không đạt được
thành công thường là một phần của việc học hỏi
được thêm các kỹ năng mới và phát hiện ra các
thông tin mới. Harvey cũng bổ sung rằng “các
căn phòng đó luôn đầy tính thử thách và thường
là người chơi sẽ cần trợ giúp, vì vậy họ có thể
yêu cầu có các gợi ý”.
Tại trung tâm Improbable Escapes Kingston,
ON, Melissa Eapen, nhà đồng sáng lập, cho
biết phòng chơi dành cho người lớn trẻ em
giống nhau. Công ty của Eapen đã kết hợp
với các khu vực di tích lịch sử, bà giải thích
rằng: “Để chơi trò này, bạn không cần những
kiến thức bên ngoài đâu. Việc giải câu đố là bản
năng trực quan của con người. Bạn sẽ học hỏi
thêm được nhiều thông qua quá trình giải đố
này. đó người lớn hay trẻ con thì chúng
tôi cũng không thay đổi/ chỉnh sửa các câu
đố, tuy nhiên chúng tôi tạo điều kiện để trẻ em
có thể hỏi nhiều nhất có thể, điều này trái ngược
với việc bị giới hạn với chỉ có 2 hay 3 manh mối.”
Bà Eapen và nhà đồng sáng lập Emma Rochon
đã quyết định rằng không giới hạn số lượng gợi
ý/manh mối thu hút các bạn tham gia học
hơn để đạt được kết quả tốt.
Học luyện tập hướng đến một mục tiêu
ràng cũng đồng nghĩa với việc ghi nhớ lưu
trữ thông tin tốt hơn. Theo Eapen, “Bởi vì chúng
ta phải liên tục hoạt động - chẳng hạn như hoạt
động để thoát ra khỏi căn phòng đó, hay hoạt
động 1 mục tiêu thể chất, nên chúng ta
xu hướng nhớ và duy trì các thông tin lâu hơn
hiệu quả hơn”. Các bài khảo sát được thực
hiện bởi Improbable Escapes đã phát hiện ra
rằng: 80% mọi người lưu giữ được các thông
tin thông qua việc giải đố. Bà Eapen tiết lộ rằng:
“Phong cách giảng dạy truyền thống không đem
đến hứng thú ngay lập tức, vậy học sinh
thể bị đãng và buồn ngủ. Việc giải câu đố là
động lực thôi thúc các bạn học sinh liên tục học
và đặt câu hỏi.
Elizabeth Smailes và Jay Cross, 2 nhà đồng
sáng lập của Escape Rooms 4 Kids tại Vancou-
ver, đều đồng ý rằng các hoạt động thực tế, trực
quan nghĩa là trẻ em tiếp thu thông tin một cách
chủ động hơn. Smailes giải thích rằng “sẽ dễ
dàng hơn khi ta tập trung vào những kỹ năng,
chủ đề, hoặc thể loại nhất định vào các thử
thách mục đích cho học sinh. Nếu các bạn
nhỏ giải đúng bài toán, một chiếc hộp thể
được mở ra, và đó chính động lực thôi thúc
các bạn học thực sự để chắc chắn rằng mình có
thể giải đúng các vấn đề”.
Một “đặc sản” khác của Escape Rooms 4 Kids
là việc hỗ trợ giáo viên chuẩn bị và lên kế hoạch
để tham gia vào các thử thách trong căn phòng.
“Chúng tôi giúp các trường học phát triển các
phương thức để có thể sử dụng các căn phòng
trò chơi đó hiệu quả nhất thể. Khi thời gian
chuẩn bị được giảm đi, thời gian cho việc học sẽ
được tăng lên nhiều lần”. Smailes có giải thích
08 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
rằng, để các phòng chơi đạt được hiệu quả sử
dụng tốt nhất thì việc sắp xếp các trò đố khiến
cho học sinh sử dụng hoặc nâng cao các kỹ
năng cụ thể nào đó là rất quan trọng. Hãy cùng
lấy một dụ. Nếu muốn giải được 1 phần của
câu đố, có thể nói rằng một nhóm phải biết sắp
xếp các dữ kiện đã có theo trình tự hợp lý để có
thể đạt được một kết quả nhất định nào đó. Một
thành viên sẽ bị bịt mắt cả nhóm đó sẽ phải
trợ giúp nhau để sắp xếp theo được đúng thứ
tự. “Một khi cả nhóm đã cùng nhau bàn bạc và
giải quyết được thứ tự cần làm, sẽ rất khó để
bất cứ thành viên trong nhóm quên được trình
tự đó!”. Kiểu bài tập này là hội để nâng cao
tinh thần làm việc tập thể, tư duy phản biện, khả
năng giải quyết vấn đề cũng như khả năng tiếp
thu thông tin kiến thức. “Hơn tất cả, đó là nó rất
vui!” Smailes không quên nhắn nhủ. Chơi
học là hình thức học tích cực, hiệu quả cho mọi
lứa tuổi. “Các trò chơi rất vui nhộn, đó cũng
thời điểm người học đón nhận sự rủi ro”, người
phụ nữ đó nói thêm. “Chấp nhận mạo hiểm thực
sự giúp học sinh học được nhiều hơn, đồng thời
cũng giúp phát triển và tìm được những kỹ năng
mà nếu không liều lĩnh thì người học sẽ không
thể có được.”
Niềm vui học tập đó không chỉ đến từ việc thoát
ra được khỏi căn phòng câu đố. Các bạn học
sinh có thể lên kế hoạch, tổ chức, và xây dựng
căn phòng của chính mình, và điều này còn tạo
ra một kết quả hiểu biết sâu kỹ hơn về môn học
và cách thức vận hành của các câu đố. Harvey
cùng cộng sự của mình Eric Reynold đã
đang đem các căn phòng câu đố của Mobile Es-
cape đến khắp các trường học trong vùng Cal-
gary. Sẽ có 2 Escape rooms trong mỗi block nhà
dài 30 ft, và các trường học có quyền lựa chọn
một buổi giới thiệu nhanh ngắn gọn trong 2 tiếng
hoặc một khóa dài và tập trung trong 1 tuần, và
trong thời gian đó, các bạn học sinh được tự
lên kế hoạch và thiết kế ra căn phòng bí ẩn của
riêng mình. Harvey bày tỏ: “Chúng ta có thể kết
nối sự sáng tạo của các bạn học sinh với bất
kỳ chương trình học nào trường học hoặc
lớp học đó mong muốn. Mọi khả năng là vô hạn
bởi chúng tôi giúp các bạn học sinh trở thành
“người làm ra”. Điều này còn vượt trên cả khái
niệm “game hóa” - nơi mà học sinh chỉ là người
chơi, người hưởng thụ. Khi các bạn nhỏ thiết kế
ra trò chơi cho mình, đó chính trào lưu Mak-
er-movement (Tạm dịch là trào lưu “tự chế tạo”):
các bạn học sinh chế tạo ra những thứ thể hiện
được những gì các bạn đã học”.
Escape rooms - Căn phòng bí ẩn có thể trở thành
1 nhân tố bổ sung tuyệt vời cho môi trường lớp
học truyền thống. “Các căn phòng chương
trình này là minh chứng rõ rệt cho việc vẫn còn
rất nhiều đất diễn cho những sự đột phá trong
lớp học”, Harvey cho biết. Anh ấy cũng đưa ra
cảm nhận của bản thân rằng lớp học vẫn chưa
được cải tiến nhiều như nhẽ ra nên thế. Theo
Harvey thì, “Chúng ta cần thích ứng được với
mọi sự thay đổi. Dù rằng đây là những việc
không dễ dàng, nhưng chúng tôi hi vọng rằng
hệ thống căn phòng ẩn sẽ đóng vai trò nhất
định trong sự thích ứng này.” Những căn phòng
đó chính một phần trong tiến trình cải cách
lớp học. Smailes bổ sung: “Dĩ nhiên, bọn trẻ sẽ
vẫn có các bài thuyết trình, vẫn làm bài đọc, bài
viết, còn các căn phòng ẩn này một kiểu
công cụ học tập. Một cách tổng quát, giống
như khoảng thời gian giải lao trong một ngày.
Các bạn sẽ có những khoảnh khắc thật vui vẻ.”
Nếu bạn vẫn chưa thử loại hình phiêu lưu theo
nhóm này, bây giờ chính là lúc lên kế hoạch, đi
giải đố và tận dụng các căn phòng bí ẩn đó như
một công cụ hỗ trợ giáo dục đầy hiệu quả.
09
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
Diane Bisson1
Trâm Lê dịch
Khi cố gắng thấm nhuần giá trị ở trẻ em, thì “trẻ
em giống như mô hình đất sét” vậy. Tuy nhiên,
khi cố gắng phân tích cách trẻ học, chúng ta
không nên vội hãy để cho trẻ được tự
do “phá khuôn”. Mở cánh cửa thử nghiệm
sáng tạo một trong những cách chúng ta
thể hướng dẫn trẻ khám phá điểm mạnh và khả
năng cũng như nhận ra điểm yếu của chúng.
Tôi tin rằng hầu hết các chương trình giảng dạy,
với kế hoạch, tổ chức nỗ lực, thể được
1 Bài viết gốc từ Teachmag: http://teachmag.com/ar-
chives/135
điều chỉnh, sửa đổi thực hiện cho phù hợp
với cách học ưa thích của các em. Ngoài ra, sử
dụng phương pháp MST (Multi-Sensory Teach-
ing - Dạy học đa giác quan) là một trong những
cách hiệu quả có thể ứng dụng thêm để học sinh
hiểu biến thông tin bài học thành kiến thức
của riêng mình. MST kết hợp ba phong cách
học tập chính: thính giác, bao gồm người học
qua lắng nghe bằng lời nói; hình ảnh, bao
gồm bản in cũng như người học hình ảnh;
động học, trong đó có chứa người học xúc giác.
Sử dụng MST, giáo viên có thể làm cho việc
học trở nên vui vẻ và thú vị bằng cách mời, thử
thách và cho phép học sinh chọn cách học tập
của riêng mình.
CÁC PHONG CÁCH HỌC KHÁC NHAU
- ĐỂ CHO TRẺ “PHÁ BỎ KHUÔN MẪU”
©staticbg.com
10 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
Người Học Qua Thính Giác
Người học qua thính giác học tốt nhất bằng cách
nghe hoặc nói. Đây thể người nói nhiều
nhất trong tất cả các kiểu học được đề cập trong
bài này. Người học này thường thích thảo luận,
nhưng thể dễ dàng bị phân tâm trong cuộc
trò chuyện. Bởi vì họ dành một bên tai riêng cho
âm nhạc, người học thính giác thường thích
nghe nhạc trong khi làm việc của mình. Nếu học
sinh của bạn một người học thính giác, họ
nên được khuyến khích lắng nghe thông tin
lặp lại nó. Họ rất có thể sẽ không thích các hoạt
động viết lách sâu rộng hay đọc thầm trong thời
gian dài. Khi học thì người học nên đọc to các
hướng dẫn về những cần làm nội dung
của những thể tiếp thu được. Người học
nên ghi chú lại bằng ghi âm hoặc băng để có thể
nghe lại sau này. Người học thính giác cũng sẽ
được hưởng lợi từ việc nghe sách trên băng.
Các tình huống thực tế nên được sử dụng để
dạy các khái niệm mới.
Người học thể đọc to thành tiếng để khiến
việc học thú vị hơn. Việc đọc một bài các bằng
miệng hoặc qua ghi âm hay video cũng trở nên
hấp dẫn hơn. Trong việc đánh vần, người học
thính giác nên được khuyến khích đánh vần các
từ thành tiếng. Kiểm tra chính tả bằng miệng có
thể giúp người học thính giác đạt được điểm
cao hơn. Toán học có thể trở nên thú vị hơn nếu
học sinh được khuyến khích tạo ra các vấn đề
từ ngữ của riêng mình bằng cách sử dụng các
khái niệm cần học. Các bước giải quyết vấn đề
toán học phải luôn luôn được xác minh bằng lời
nói. Người học thính giác thể học các phép
tính nhân chia bằng cách nghe chúng trên
băng hoặc trong một giai điệu.
Có hai kiểu người học thính giác: người học qua
nghe và người học bằng lời nói. Người học bằng
lời nói tỏ ra có thế mạnh hơn nhiều trong cách
tiếp cận thông tin đã cho. Họ nói những từ đại
diện chính xác những họ hiểu. do này,
họ cần có cơ hội để diễn đạt bằng lời những gì
họ học được. Họ giải quyết vấn đề bằng cách
nói về chúng. Làm việc chung với người khác sẽ
giúp họ rèn giũa kĩ năng này.
Người Học Trực Quan
Một người nghĩ bằng hình ảnh hoặc bằng từ
ngữ được gọi người học trực quan. như
thể người đó một máy quay phim trong tâm
trí mình quay lại những anh ấy nghe hoặc
đọc thường được nhìn thấy bằng hình ảnh hoặc
bằng lời nói vậy. Phong cách học tập này bao
gồm người học hình ảnh và người học chữ.
Người học hình ảnh thường có thể gặp một số
khó khăn với việc đọc và đánh vần bởi vì với họ,
các chữ cái đại diện cho âm thanh chứ không
©behance.net
11
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
phải hình ảnh. Người học hình ảnh nên được
khuyến khích chú ý đến hình minh họa, đồ thị,
bản đồ, v.v ... Việc ghi chú hình ảnh này sẽ giúp
họ sắp xếp và lưu trữ thông tin đã cho.
Mặt khác, người học qua chữ viết sẽ suy nghĩ
tốt bằng chữ. Sơ đồ và hình minh họa có thể gây
nhầm lẫn cho họ. Họ có nhiều khả năng bỏ qua
các hình ảnh tập trung vào các thông tin bằng
văn bản. Vì lý do này, sẽ hiệu quả nhất khi người
học đọc viết thông tin được giữ lại, và vì họ
yêu màu sắc, họ có thể gạch chân hoặc làm nổi
bật thông tin đã cho. Người học bằng chữ viết
nên ghi chép bằng bút, bút chì và giấy màu khác
nhau. Họ sẽ giữ lại thông tin bằng lời nói, không
phải bằng hình ảnh.
Trái ngược với người học thính giác, những
người thường kết quả tốt hơn khi làm
việc với người khác, người học trực quan thích
ở một mình để đọc và nghiên cứu một cách lặng
lẽ. Họ có thể sẽ không chọn các hoạt động nhập
vai hoặc lắng nghe người khác. Họ chọn cách
tự tổ chức tự làm việc. Các bài viết của họ
rất gọn gẽ và chặt chẽ. Bàn làm việc và phòng
ngủ của họ cũng rất sạch sẽ, tươm tất. Họ cũng
thích sự gọn gàng trong vẻ ngoài của mình.
Kĩ năng đọc hiểu có thể hiệu quả với người học
hình ảnh nếu họ được vẽ hoặc tạo đồ của
các nhân vật và sự kiện trong một câu chuyện.
Người học bằng chữ viết, mặt khác, sẽ thích viết
ra tên của các nhân vật trong một câu chuyện
và ghi chú các sự kiện. Về chính tả, người học
hình ảnh thể trang trí các từ mới hoặc làm
cho chúng trông giống như một bức tranh. Cấu
hình từ vựng cũng có thể hữu ích. Đối với người
học chữ viết, các từ chính tả mới thể được
viết bằng bút màu, tô sáng, bút chì và giấy khác
nhau. Toán học thể trở nên thú vị hơn nếu
các sự kiện số được viết trên thẻ học từ vựng
(ashcard) có màu. Các dòng số sáng đèn cũng
có thể là một công cụ tốt để tìm hiểu các sự kiện
toán học. Người học hình ảnh có thể tập luyện
thêm bằng cách rút ra từng bước trong việc giải
các bài toán trong khi người học chữ viết có thể
làm nổi bật các dấu hiệu hoạt động của một vật
nào đó.
Người Học Động Học
Nhiều cá nhân cần sử dụng phương pháp toàn
thân để học hỏi. Cách học thoải mái hơn này
được gọi là phong cách động học, kết hợp
phương pháp xúc giác. Người học động học sẽ
học tốt nhất bằng cách sử dụng kết hợp các kiểu
học. Họ cần lắng nghe (thính giác) và xem (trực
quan) các thông tin đã cho. Sau đó có thể cần
phải lặp lại (bằng lời nói) bằng lời nói của
mình. Họ cũng có thể phải viết, đánh máy, hoặc
thậm chí vẽ (xúc giác) thông tin cần được giữ lại.
Bởi họ cần phải di chuyển nhiều, người học
động học khả năng đi bộ xung quanh trong
khi làm việc. Họ đạt hiệu quả tốt hơn khi làm
việc trong thời gian ngắn thay vì phải tập trung
thời gian dài. Vì năng lượng dồn nén của mình,
họ thường xuyên bồn chồn bồn chồn. Ngồi
trong thời gian dài vô cùng thử thách đối với
nhóm người học này. Cảm giác về thách thức
thời gian khó khăn cho họ. Thay nhìn về
tương lai, họ chỉ chú tâm khoảnh khắc hiện tại
(điều này giải thích tại sao họ phấn đấu để hiểu
hậu quả của hành động của mình). Đáng buồn
thay, họ thường được dán nhãn hiếu động. Anh
ta thường tỏ ra tổ chức, nhưng với người học
động học, mọi thứ giống như sự nhầm lẫn có tổ
chức.
Người học động nên vận dụng nhu cầu của mình
một cách hiệu quả trong suốt quá trình học. Ng-
hiên cứu của họ về thông tin nào đó có thể được
chuyển thành video, âm thanh hoặc hình ảnh.
Bằng cách thể hiện những họ đã học được
thông qua một thí nghiệm (khoa học) với một
hình hoặc đồ thị (toán học) hoặc trong một tiểu
phẩm (kịch), người học động học có thể chứng
minh những họ đã hiểu biến thành kiến
12 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
thức của riêng mình. Diễn đạt các từ vựng hoặc
nhân vật nhập vai trong một câu chuyện có thể
cải thiện khả năng đọc hiểu của họ. Họ có thể
thực hành đánh vần bằng cách viết các từ trong
không khí, trên bàn hoặc trên một người nào đó.
Một cách khác để họ nhớ chính tả là vỗ tay theo
từng chữ cái của một từ hoặc đi từng bậc cầu
thang trong lúc đánh vần nó. Viết từ trên giấy
nhám, cát ướt, muối, bánh pudding, kem đánh
bông màu, hoặc thậm chí gỡ kẹo cao su
khỏi áo quần là những cách thú vị khác để học.
Hãy nhớ rằng, sự di chuyển những người
tham gia rất quan trọng đối với người học động
học. Họ cũng nên được khuyến khích để thực
hiện các vấn đề từ ngữ toán học. Các chương
trình máy tính tương tác hay các sự kiện toán
học cũng có thể là động lực to lớn đối với họ.
Cách học xúc giác là một phần của phong cách
động học. Nếu học sinh của bạn một người
học khéo léo, bạn sẽ nhận thấy rằng họ hiểu
nhất và giữ lại thông tin nhiều nhất khi họ có thể
chạm vào nó, chơi với thao tác với nó.
Các hoạt động thực hành công cụ tốt nhất
cho họ. Người học xúc giác thích máy tính
các thiết bị cầm tay khác. Một máy đánh chữ cũ
cũng thể rất tốt cho loại người học này bởi
họ phải nhấn mạnh hơn vào các chữ cái
phím số. Vẽ và viết bằng phấn hoặc bảng trắng
cũng thú vị đối với họ. Họ học tốt nhất thông qua
thử nghiệm, thử nghiệm và sai sót, và thực hiện
các chuyến đi và thăm viếng các nơi. Tương tự
như phong cách học động học, chuyển động
rất quan trọng đối với người học xúc giác. Họ
không thích các hoạt động đọc sách trong thời
gian dài các hoạt động nghe, rất thể
họ sẽ không thích sách bài tập hoặc bảng tính
vì điều đó buộc họ phải ngồi xuống để mà hoàn
thành chúng.
Xác định, giải quyết tôn trọng cách học ưa
thích của học sinh chính là cách làm trẻ hài lòng
nhất. Quan trọng nhất, giáo viên và phụ huynh
của trẻ em từ 5 đến 11 tuổi thể thấy những cải
thiện lớn trong kết quả học tập và lòng tự trọng
của trẻ em một khi những điều trên đã được làm
theo. Khi đứa trẻ trưởng thành, trẻ sẽ nhận thức
được cách mình học, sẽ xây dựng một nền
tảng vững chắc dựa trên những điểm mạnh của
mình và phát triển các chiến lược để hiểu được
điểm yếu của mình.
Để tóm lại, tôi xin đưa ra gợi ý này cho tất cả
những ai yêu thích làm việc với trẻ em
những người trẻ tuổi: hãy đánh giá phong cách
học tập của riêng bạn. thể phục vụ như
một công cụ để bạn làm việc với người trẻ tuổi
kể cả bạn có thể muốn hay không muốn sử
dụng. Dựa trên nhiều năm làm việc với trẻ em ở
các độ tuổi và hoàn cảnh khác nhau, tôi thể
chứng minh rằng một khi cách học yêu thích của
trẻ được phát hiện, tiềm năng của chúng
hạn. Với tư cách là người chăm sóc, hãy phá vỡ
khuôn mẫu và “Để trẻ làm những điều trẻ thích
đi!”
13
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
Sean Blackmer1
Hà Thu dịch
Sau bốn năm giảng dạy ở một trường học thay
thế cấp 3, có 1 điều mà thôi thường được nghe
từ phía học sinh mới là, “liệu chúng ta có thể di
chuyển xung quanh lớp học và không gặp phải
khó khăn nào không? Giáo viên của chúng
em chưa bao giờ để chúng em làm những điều
này!” Mỗi lần tôi nghe được điều đó, tôi lại cảm
thấy rất vui khi học sinh của tôi cảm thấy tự do
trong lớp học của mình, tuy nhiên tôi vẫn ý thức
được rằng vẫn có hàng trăm sinh viên phải ngồi
1 Tựa gốc: Movement in Classroom, dịch từ Teachmag
http://teachmag.com/archives/10678
cả ngày khi học trên lớp. Khi tôi phát biểu rằng
bất cứ giáo viên nào cũng thể kết hợp với việc
để học sinh của mình di chuyển trong lớp, tôi
thường gặp phải những hoài nghi. Trên cương
vị của một người giáo viên, một xã hội, chúng ta
vẫn thường hay quên rằng hoạt động là một yếu
tố quan trong cho cả thể não bộ. Chúng
ta đang trở nên quá quan tâm vào điểm kiểm tra
của học sinh thay vì quan tâm đến sức khỏe, thể
chất và tinh thần của học sinh mình. Là một nhà
giáo, tôi hiểu được điểm số ảnh hưởng như
thế nào đến học sinh hay trường học, nhưng đó
có phải thực sự là mục tiêu của một người làm
giáo dục?
SỰ VẬN ĐỘNG TRONG LỚP HỌC
© blog.classdojo.com
14 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
Cùng với sự hỗ trợ của công nghệ nghiên
cứu về cách hoạt động về bộ não của con người,
chúng tôi thể hiểu được tại sao làm các
nào mà sự di chuyển có thể giúp chúng ta. Rất
nhiều kết quả nghiên cứu cho ta thấy được sự
di chuyển có khả năng giảm đi những vấn đề về
hành vi và các vấn đề tâm lý, cải thiện sự chú ý,
và tạo ra nhiều sự hấp dẫn và ý nghĩa trong lớp
học. Điều này là do sự giải phóng não của bốn
hóa chất chính trong quá trình di chuyển: Sero-
tonin, Dopamine, Endorphin và Cortisol.
Serotonin giúp điều chỉnh tâm trạng của học sinh
trong khi Endorphin và Cortisol đều giúp giảm
chống lại căng thẳng. Dopamine đóng một vai
trò quan trọng trong việc thúc đẩy và khiến mọi
người tiếp tục làm việc. vậy, đối với những
học sinh mà đang trải qua thời kỳ khó khăn, lo
lắng cao độ hoặc các rối loạn sức khỏe tâm
khác, việc các hóa chất này xuất hiện cho phép
chúng ở trạng thái tốt hơn, tích cực hơn.
Chuyển động cũng giúp kích thích vùng hải mã
- một phần của bộ não có liên quan đến trí nhớ.
Sau khi một học sinh đã di chuyển, hải mã của
họ hiệu quả hơn trong việc lưu trữ thông tin cũng
như tạo ra các kết nối thần kinh cần thiết để nhớ
lại thông tin nhanh hơn khi cần thiết.
Vậy, chúng ta có thể làm gì trong lớp học để thúc
đầy sự di chuyển? Các nghiên cứu khuyên rằng
mọi người nên đứng dậy và di chuyển 20 phút.
Di chuyển có thể đơn giản như đi bộ, các hoạt
động làm giãn cơ, hoặc đứng một tư thế yoga.
Những hoạt động này sẽ làm tăng lượng máu
lưu thông trong cơ thể đặc biệt lưu thông
trên não bộ. Máu càng được lưu thông thì sẽ
càng nhiều Oxy được vận chuyển lên trên não
bộ, Từ đó tạo ra các con đường thần kinh
cho phép học sinh nhớ lại tài liệu tốt hơn và hiệu
quả hơn. Phần lớn thời gian dành thời gian ngồi
ở trường học và trong khoảng thời gian đó, cũng
chỉ có một khoảnh khắc ngắn học sinh có thể đi
bộ, điều này không đủ cung cấp đủ chuyển động
cần thiết để giúp tâm trí khả năng học tập
cao. Trong khi đó, có rất nhiều trường học đang
dần giảm thiểu các môn học thể chất để thêm
thời gian ngồi học trên lớp để chuẩn bị cho bài
kiểm tra. Việc này thậm chí có thể làm tăng lên
những vấn đề trên lớp học.
Trong lớp của tôi, tôi đủ may mắn đề có thể
mua hai bộ bàn có khả năng di chuyển. Một bộ
được gọi “bàn có chân đạp - Pedal Desks” nơi
4 học sinh thể ngồi và đạp xe đạp trong khi
làm việc tại bàn. Bộ thứ hai bao gồm các bàn
đứng, với một bàn đứng tiêu chuẩn mặt
còn lại hai bảng cân bằng nơi học sinh học
tập.
Vào mỗi đầu năm học, tôi thường xem qua các
các quy tắc kỳ vọng của tôi về những chiếc
bàn cho học sinh, thậm chí thôi còn đi sâu hơn
vào lý do tại sao học sinh lại lại có mặt trong lớp
học của tôi. Nếu bạn muốn tạo ra những thay
đổi tích cực trong lớp học, thì bạn phải giải thích
cho sinh viên mục đích của phương pháp của
bạn. Một khi học sinh trong lớp, họ hiểu
mục đích, giáo viên có thể giảm thiểu được việc
quản lý hành vi học học sinh trong lớp học.
Lần đầu tiên tôi giới thiệu bộ bàn chân đạp, có
một nhóm học sinh nữ lớp 8 đã nghĩ rằng chiếc
bàn trông thật ngu ngốc và sơ đẳng. Sau một vài
tuần, tôi nhận thấy rằng có một bạn học sinh nữ
bắt đầu ngồi vào bàn sau đó bạn bè của
bé cũng bắt đầu làm theo. Sau đấy, tôi giao bài
tập viết cho lớp và tôi chứng kiến được việc não
bộ cần chuyển động như thế nào. Tôi chỉ định
4 học sinh ngồi trên chiếc bàn bàn đạp làm
bài tập viết trên Google Docs. Khi chúng đang
đọc đề (có 3 đoạn văn) thì chúng không bất
cứ một hoạt động gì, nhưng ngay sau khi chúng
bắt tay vào đánh máy, thì chân cũng bắt đầu đạp
chiếc bàn đạp.
Tôi cũng có một số ghế lắc lư tương tự như ghế
đẩu, nhưng thay vì bốn cột gỗ làm chân, có một
trụ mặt dưới cong. Điều này buộc học sinh
phải liên tục tìm trung tâm của chiếc ghế chỉ để
15
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
thế đã cho tôi những quan điểm rộng hơn về
việc học tập của học sinh, khác nhiều so với
những gì được miêu tả trong các khóa học đại
học của tôi. Các gia đình muốn một cái đó
khác biệt khi hầu hết các trường học truyền
thống chỉ ngày càng lớn hơn, mọi người tìm
kiếm các lựa chọn khác. Chúng tôi phải bắt đầu
thích nghi với các sinh viên của chúng tôi không
phải cách khác.
Bộ não của chúng ta luôn xu hướng muốn
hoạt động và khi chúng ta để bộ não hoạt động
thì sự sáng tạo, trí nhớ, sự chú ý, sự tập trung,
tâm trạng và giá trị của bản thân cũng sẽ được
tăng theo. Có rất nhiều cách khác nhau để kết
hợp các hoạt động chuyển động vào trong lớp
học.
Trong một năm, tôi đã dạy cho học sinh lớp 6
của mình cách tung hứng. Mỗi ngày chúng tôi
dành ra 6-10 phút để luyện tập trong giờ học 50
phút. Tôi đã đọc và nói chuyện với các giáo viên
khác, những người kết hợp vận động thể chất
vào trong lớp học. Họ đã ghi nhận kết quả tương
tự. Đây phần tốt nhất; bất kể loại chuyển động
nào bạn kết hợp vào lớp học của bạn, tất cả
chúng đều có cùng lợi ích cho học sinh, lớp học
trường học. Một khi giáo viên thúc đẩy sự
hiểu biết của học sinh về mục đích của nó, bạn
sẽ niềm vui. Trường học nên làm cho niềm
vui
“Sean Blackmer một giáo viên
khoa học hội và tự chọn ở trường
trung học sở tại Grand Junction,
Colorado. Ông là người đóng góp chính
cho sự phát triển của trường trong một
chương trình học tập trực tuyến tại chỗ.
Ông hiện đang hoàn thành bằng Thạc
về Giáo dục đặc biệt thông qua Đại học
Colorado Mesa và sẽ nhận được chứng
chỉ về Nhà phân tích hành vi ứng dụng
từ Đại học Bắc Colorado.
mất thăng bằng một lần nữa. Đó một cách
tuyệt vời để giúp những học sinh cần phải bồn
chồn di chuyển, nhưng không muốn đạp hoặc
đứng lên để làm việc. Tôi đã thấy điều này xảy
ra nhiều lần trên tất cả các cấp lớp ở trường cấp
hai, giới tính, IQ, năng khiếu tài năng, học
sinh Giáo dục đặc biệt học sinh thần kinh.
Học sinh tôi đã dạy với ADHD, ADD hoặc
cậu học sinh cấp hai điển hình của bạn không
bao giờ là vấn đề hành vi trong lớp học của tôi
so với các lớp học khác.
Lớp học của tôi thường bị đánh giá một rạp
xiếc hoặc một lớp học ồn ào bởi các giáo viên
khác và những người tham quan, nhưng liệu đó
có phải là một lớp học không? Tại sao chúng ta
thường ý niệm rằng lớp học khi những chiếc
bàn được xếp ngay ngắn theo hàng theo lối, giữ
im lặng, và luôn luôn phải dựa vào thầy cô giáo.
Với tất cả các công nghệ với tất cả những
nghiên cứu mà chúng ta có, liệu phương pháp
học truyền thống ngồi và học có còn là phương
pháp học tập hiệu quả nhất? Các trường học
một số tổ chức đã thực hiện một vài lớp học kết
hợp với di chuyển thấy được kết quả về hành
vi, điểm số văn hóa trường học được nâng
cao một cách đáng kể. Tôi hiểu rằng một vài
giáo viên có thể lo ngại việc di chuyển và hoạt
động trên lớp có thể lấy đi thời gian cho các hoạt
động học thuật, nhưng thông điệp chúng ta
muốn gửi gắm đến học sinh của mình? Tìm hiểu
về các công thức bậc hai hoặc những người đã
qua đời vào năm 1492 quan trọng hơn so với
các sinh viên quan điểm về bản thân hoặc
làm thế nào chuyển động thể tác động tích
cực đến sức khỏe? Tôi sống trong một khu vực
xảy ra chín vụ tự tử thiếu niên trong năm học
2016-2017 và tiểu bang Colorado có một trong
những tỷ lệ tự tử cao nhất Hoa Kỳ. vậy,
điều đó đưa ra quan điểm một lần nữa; Khi nào
chúng ta bắt đầu tập trung vào phúc lợi tinh thần
của học sinh hơn là tiêu chuẩn của nhà nước?
Làm việc trong một môi trường trường học thay
16 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
Richard Worzel1
Ngọc Lan dịch
Chủ quyền Bắc Cực đang được thảo luận trên
tạp chí TEACH là một chủ đề khá thú vị, nhưng
chỉ là một phần nhỏ của vấn đề lớn hơn có thể
được tiếp cận từ quan điểm chính trị, kinh tế, địa
chất, khí hậu, nhiều lĩnh vực khác. Thực tế,
các lĩnh vực có liên quan này và cách nhìn nhận
sâu rộng sẽ tạo động lực nhiều hơn cho học
sinh (và giáo viên) để theo đuổi các khía cạnh
giáo dục khác nhau và không xem các môn học
trong chương trình giáo dục là tách biệt. Hãy để
tôi mở rộng hơn cuộc thảo luận về vấn đề chủ
quyền Bắc Cực này.
1 Tựa gốc: e Law of Unexpected Consequenses, dịch
từ Teachmag http://teachmag.com/archives/3301?-
clid=IwAR1h9B_oFaOhQHsCKlcVMYuVzDs1lueF-
CO1kqgdNG3gvpzq58H85KH6Imjo
Đầu tiên, lý do duy nhất cho việc chủ quyền của
Bắc Cực trở thành chủ đề nóng sự thay đổi
khí hậu đang mở ra Hành lang Tây Bắc, khiến
cho Bắc Cực dễ tiếp cận hơn. Khi Bắc Cực còn
là một tảng băng bị cô lập và cố định, nó được
coi là vùng đất hoang và chỉ được những người
đã sống đó quan tâm. Nhưng thể thấy
ràng khí hậu Trái đất đang thay đổi, điều đó
làm cho Bắc Cực đáng được chú ý hơn vì nhiều
lý do. Để thấy rõ điều này, ta sẽ tập trung bàn về
biến đổi khí hậu.
một số quan điểm khác biệt giữa các nhà
khoa học, và khá nhiều điều không chắc chắn về
lâu dài, nhưng nếu bạn nhìn vào những gì đang
xảy ra, thì không khó để nhận thấy rằng khí hậu
thực tế đang thay đổi. Có thể thấy những thay
đổi rõ rệt, từ hiện tượng lạnh cực đoan và tuyết
ĐỊNH LUẬT VỀ NHỮNG HỆ QUẢ
KHÔN LƯỜNG:
MỘT CÁCH HỌC TỐT HƠN
© ptcnetwork.ca
17
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
rơi bất thường ở Anh và Bắc Âu, hay sự ấm lên
và lạnh đi liên tục ở Nam Cực, đến sự tan chảy
của những tảng băng vĩnh cửu ở vùng Bắc Cực
thuộc Canada. Những người bác bỏ thuyết biến
đổi khí hậu sẽ nói rằng còn quá sớm để biết
liệu có bất cứ điều gì xảy ra hay không, và rằng
ngay cả khi có điều gì đó xảy ra thì cũng không
có gì lạ vì khí hậu vẫn luôn thay đổi một cách tự
nhiên.
Nhưng hãy tạm thời bỏ qua những tranh cãi mà
giả sử rằng biến đổi khí hậu đang xảy và ra và
hiện tại đã quá muộn để ngăn chặn nó. Điều đó
không có nghĩa là chúng ta không nên làm gì vì
từng hành động của chúng ta làm bây giờ
thể ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ thay đổi
sau này. Hãy thử nghĩ đến khác biệt giữa hiện
tượng cháy nắng nhẹ hiện tượng say nắng
có thể gây tử vong. Thử lấy ví dụ về chủ quyền
Bắc cực và biến đổi khí hậu, điều tôi muốn nhấn
mạnh tại sao tương lai lại khó dự đoán đến
vậy.
Theo các nhà nghiên cứu biến đổi khí hậu, nhiệt
độ toàn cầu được dự đoán sẽ tăng lên 2 độ (Cel-
sius) trong thế kỷ XXI. Điều này có nghĩa là đại
dương ấm lên, mực nước biển cao hơn, một số
nơi nhiều mưa hoặc hạn hán hơn bình thường,
những cơn bão dữ dội hơn trong cả mùa đông
mùa hè, những thay đổi đáng kể trong
mùa sinh trưởng ở tất cả các vùng nông nghiệp.
Nhưng hãy nghĩ về những biến đổi sâu xa hơn,
bởi chúng thường không phải những hệ
quả đầu tiên, mà là những hệ quả thứ cấp, tam
cấp, thậm chí xa hơn nhưng lại mang tính then
chốt và quyết định.
Nếu nhìn vào Canada, biến đổi khí hậu có ý ng-
hĩa với chúng ta? Đầu tiên, Hành lang Tây
Bắc được mở và trở thành con đường ngắn hơn
cho các tàu đi từ châu Âu đến các thành phố ven
biển của Đông Á. Nó làm gia tăng sức ép chính
trị giữa Hoa Kỳ (nơi tuyên bố Hành lang Tây Bắc
là tuyến đường thủy quốc tế, do đó mở cửa cho
tất cả các quốc gia) Canada (nơi tuyên bố
đây là tuyến đường thủy nội địa). Vấn đề này đã
làm tăng căng thẳng giữa tất cả các quốc gia
cực Bắc (Canada, Nga, Mỹ, Đan Mạch các
quốc gia Bắc Âu khác), gây ra một cơn sốt đất
để đòi hưởng tài nguyên thiên nhiên tiềm năng
dưới vùng Bắc Băng Dương. Nó đặt Canada
vào một vị thế địa chính trị nhiều xung đột
hơn, với những khoản thương lượng tiềm năng
hơn và cả những tình huống bất lợi tiềm ẩn mà
ta chưa có sự chuẩn bị tốt.
Tiếp theo, hãy xét đến nền nông nghiệp. Những
đại bình nguyên ở Canada là một vựa bánh
lớn của thế giới. Các quốc gia đang phát triển
nhanh chóng như Trung Quốc, Ấn Độ, ... đang
chứng kiến sự gia tăng mức sống khá nhanh.
Theo khuynh hướng phát triển, nhu cầu về thực
phẩm sẽ tăng lên cả về số lượng và chất lượng.
Điều này khá tốt cho người nông dân Canada.
Nếu khí hậu ở Canada ấm lên, người dân có thể
kéo dài thời gian mùa vụ, điều đó làm cho cây
trồng phát triển tốt hơn và được mở rộng phạm
vi gieo trồng.
Tuy nhiên, điều này không hẳn là hoàn toàn
lợi. Đầu tiên, biến đổi khí hậu cũng thể
làm biến đổi quy luật mưa và tuyết. Những bình
nguyên đất nông nghiệp cận biên chúng
khá khô cằn. Đất này chỉ cung cấp đủ độ ẩm vào
một số thời điểm thích hợp trong năm để mang
lại năng suất cho cây trồng. Nếu quy luật mưa
thay đổi, năng suất không những không tăng,
mà còn thể giảm đi. Ví dụ, vào năm 2010, trời
mưa to và nhiều vào đầu mùa xuân đã khiến cho
mặt đất ở một số nơi trên bình nguyên quá mềm
ẩm ướt, làm chết cây lương thực, dẫn đến
sản lượng thu hoạch sụt giảm, hoặc thậm chí có
nơi hoàn toàn mất mùa.
Khí hậu ấm lên cũng đồng nghĩa với nhiều sâu
bệnh. Mùa đông ít khắc nghiệt hơn, côn trùng
sinh sôi nhanh, kèm theo côn trùng mới từ vùng
18 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
khí hậu ấm khác di chuyển đến và khó tiêu diệt
hơn. Nhiệt độ ấm lên còn đi đôi với nhiều bệnh
thực vật, ký sinh trùng bệnh nấm. Một lần
nữa, vấn đề lại càng phức tạp hơn.
Tăng sản lượng cây trồng sẽ dẫn đến sự gia
tăng cạnh tranh và có thể gây ra xung đột cho
chính trị Canada, khiến người dân các tỉnh
nông nghiệp chịu sức ép về giá cả từ người tiêu
dùng và các tỉnh tiêu thụ.
Trong khi đó, những người sống vùng cao của
Bắc cực thể phải rời bỏ nhà của họ. Băng
vĩnh cửu đang tan chảy ở nhiều nơi. Những con
đường băng quan trọng để tiếp tế cho các cộng
đồng phía bắc vào mùa đông đang có xu hướng
tan băng sớm hơn và đóng băng muộn hơn.
Điều này có nghĩa là nguồn cung cấp cho vùng
phía bắc trước khi người dân bị lập trong mùa
xuân hè ngày càng giảm. Liệu rằng người
dân miền nam với lịch sử đã nhiều năm phớt lờ
miền bắc Canada có sẵn lòng giúp đỡ họ? Liệu
chủ quyền Bắc Cực có phải chỉ dành cho quan
hệ quốc tế? ràng một lần nữa, một vấn đề
chính trị sẽ phát sinh từ một vấn đề khí hậu.
Mực nước tăng sẽ ảnh hưởng ra sao đến bờ
biển Canada như St. John, Halifax, Vancou-
ver và Victoria? Ở Bờ Tây, nơi vốn tiềm ẩn nguy
động đất, liệu mực nước biển dâng cao
gây ra ảnh hưởng lớn hơn tới các đứt gãy ngầm
dưới biển, dẫn đến động đất với số lượng nhiều
và quy mô lớn hơn không?
Nói về đại dương, đại dương ấm hơn có nhiều
vấn đề. Có thể bão sẽ xuất hiện ít hơn, nhưng
quy những cơn bão sẽ nghiêm trọng hơn,
gây thiệt hại cho các cộng đồng ven biển nặng
nề hơn (bao gồm các tỉnh Đại Tây Dương, như
đã xảy ra vào năm 2010). Nhiệt độ đại dương
cao hơn cũng nghĩa rằng các rặng san
đang chết dần những rặng mới đang hình
thành ở những nơi cách xa xích đạo. Thậm chí
có thể hiểu là chuỗi thức ăn trong đại dương bị
phá vỡ, điều này thực sự ảnh hưởng trầm trọng
đối với tất cả sự sống trên Trái đất. (Chúng ta
thực sự không biết.)
Đại dương nóng lên cũng có nghĩa Vương quốc
Anh Bắc Âu quay trở về nguyên trạng khí
hậu nơi này. Lưu ý rằng London gần như
cùng vĩ độ với vịnh James và nếu không có hiệu
ứng ấm lên của dòng hải lưu Gulf Stream, nó sẽ
lạnh hơn nhiều. Nhưng sông băng Greenland
tan chảy, và tảng băng Bắc Cực đang biến mất
nhanh chóng tạo ra lượng lớn nước ngọt lạnh
đổ xuống eo biển Labrador vào Bắc Đại Tây
Dương, làm chậm và loãng dòng chảy của dòng
hải lưu. Không chắc rằng đây nguyên nhân
gây ra mùa đông lạnh hơn tuyết rơi nhiều
hơn ở châu Âu gần đây, nhưng nó cũng có thể
một yếu tố góp phần. Lịch sử địa chất cho
thấy dòng hải lưu Gulf Stream bị gián đoạn lần
trước đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong khí
hậu của Bắc Âu.
Hiện tại, nếu khí hậu của Vương quốc Anh
Bắc Âu trở nên lạnh hơn, hãy nghĩ xem điều đó
sẽ làm cho nền kinh tế và chính trị của các quốc
gia này của thế giới thay đổi mạnh mẽ như
thế nào?
Nhưng giả thuyết cuối cùng tôi muốn đề cập
biến đổi khí hậu cực đoan. Có một số ý kiến cho
rằng kỷ băng hà cuối cùng của khoảng 12.000
năm trước được kích hoạt bởi sự nóng lên toàn
cầu. Một số nhà địa chất tin rằng các hình
biến đổi khí hậu mà chúng ta đang thấy hiện nay
giống với các hình hai kỷ băng gần đây
nhất. Giả sử sự thay đổi khí hậu dẫn đến hiệu
ứng domino khiến chúng ta rơi vào thời kỳ băng
hà khác, hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn nhiều so
với sự nóng lên toàn cầu.
Khi nhìn điểm cao nhất của kỷ băng cuối
cùng, hầu hết Canada nằm dưới ba ki-lô-mét
19
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
băng trở lên, nó sẽ gần như không có trên bản
đồ. May thay, quan điểm này chỉ mới được một
số ít người đặt ra, chỉ được cho một khả
năng vô cùng thấp. Còn nhiều điều hơn nữa
ta thể suy ngẫm về những hậu quả lợi
hoặc bất lợi của biến đổi khí hậu. Chủ quyền
Bắc Cực là một trong số đó, nhưng còn hệ quả
khác nữa. Tuy vậy, khám phá chủ đề này rõ ràng
là một minh chứng chứng tỏ rằng: với bất kì vấn
đề nào, việc tìm hiểu về thế giới thực không chỉ
dừng lại việc xem trong các hộp nhỏ
tách biệt, mà cần kết nối chúng để cái nhìn
sâu và rộng hơn. Điều này mới khiến chủ đề tìm
hiểu trở nên thực sự hấp dẫn.
“Richard Worzel là một chủ soái của thuyết vị lai
ở Canada, là một trong những diễn giả có tỉ
lệ yêu cầu cao nhất trong lĩnh vực thương mại
ở quốc gia này. Ông tình nguyện dành thời gian
trong khả năng thể của mình để nói chuyện
miễn phí với đối tượng học sinh trung học. Liên
lạc với ông qua email tại futurist@futuresearch.
com.
20 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Học thế nào
Số 9 - 2019
ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỂ GỌI TÊN
PHÂN LOẠI MÀU SC
TRONG TIẾNG VIỆT
TIẾNG ANH
© simplek12.com
©freedesignle.com
21
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Lê Thái Hưng1
Từ buổi bình minh của nhân loại, sự sống của
con người đã bắt đầu trong một thế giới đầy ắp
màu sắc. Sống trong thế giới muôn màu, hiển
nhiên con người có nhu cầu truyền tải các thông
tin chứa đựng những yếu tố màu sắc trong quá
trình giao tiếp với nhau. Với vai trò phương
tiện giao tiếp, ngôn ngữ cung cấp cho con người
hệ thống từ vựng đồ sộ để gọi tên và phân loại
màu sắc. Đó chính là các từ chỉ màu sắc (Hue
terms) và các từ bổ nghĩa cho chúng (Modiers).
Màu sắc chúng ta thấy là như nhau nhưng các
ngôn ngữ khác nhau, bằng sự phong phú của
mình, lại có cách nói và cách dùng từ khác nhau
để gọi tên, điển hình hai ngôn ngữ Anh-Việt.
Điều này tạo nên nét đặc trưng của từng ngôn
ngữ nhưng đồng thời cũng là một chướng ngại
vật trên con đường giao lưu giữa các nền văn
hóa khác nhau. Trong bối cảnh đó, phương
pháp so sánh, đối chiếu giữa các ngôn ngữ
sự lựa chọn hàng đầu để vượt qua rào cản ngôn
ngữ, đưa con người đến gần nhau hơn. Và nằm
trong xu thế chung đó, bài viết này được hình
thành với kỳ vọng góp phần vào trào lưu dạy và
học tiếng Anh hiện nay tại Việt Nam. Thông qua
việc nghiên cứu một số tài liệu liên quan, người
viết mong muốn đưa ra được những nhận định
chung nhất về sự tương đồng dị biệt về từ
vựng trong quá trình nhận thức và biểu đạt các
màu trong hai ngôn ngữ khi nói về màu sắc.
Các cấu trúc từ dùng để gọi tên và phân loại
màu sắc trong tiếng Anh
1. Tính từ chỉ màu sắc
(Adjectives)
dụ: pink (màu hồng), yellow (màu
vàng)…
2. Tính từ chỉ màu sắc có hậu tố
1 Trường Đại học An Giang (Bộ môn Ngôn
ngữ và dịch thuật - Khoa Ngoại ngữ). Điện thoại:
0913 640 420. Địa chỉ liên lạc: 3C4 Nguyễn Biểu,
phường Đông Xuyên, thành phố Long Xuyên, tỉnh
An Giang.
(Adjectives + -ISH / -Y)
Ví dụ: yellow (màu vàng) yellowy (màu
vàng nhạt)
brown (màu nâu) brownish
(màu nâu nhạt)
3. Từ chỉ vật được dùng như tính từ chỉ
màu sắc
(Object glosses / Hue terms)
dụ: brick (viên gạch) - brick (màu
gạch)
4. Tính từ chỉ độ đậm nhạt hay độ sáng đi
cùng tính từ chỉ màu sắc
(Adjectives denoting saturation or light-
ness + Hue terms)
Ví dụ: light blue (màu xanh da trời nhạt)…
5. Tính từ chỉ màu sắc có hậu tố -ISH đi
cùng tính từ chỉ màu sắc
(Adjectives + -ISH + Hue terms)
Ví dụ: whitish blue (màu xanh trắng)…
6. Từ bổ nghĩa chỉ vật đi cùng tính từ chỉ
màu sắc
(Object glosses + Hue terms)
Ví dụ: sky blue (màu xanh da trời)…
7. Lặp từ / điệp từ
(Repeated words)
dụ: Red red rose (màu đỏ đậm, đỏ
thắm)…
Các cấu trúc từ dùng để gọi tên và phân loại
màu sắc trong tiếng Việt
1. Từ đơn (chỉ màu sắc)
Ví dụ: tím, nâu…
2. “Màu” đi cùng danh từ chỉ vật
Chuyển đổi từ có nghĩa biểu vật thành từ
chỉ màu sắc bằng cách thêm từ màu.
Ví dụ: màu hạt dẻ, màu mạ non…
3. Tính từ chỉ màu sắc đi cùng tính từ chỉ
độ sang/độ đậm nhạt
Ví dụ: xanh nhạt, vàng đậm…
4. Tính từ chỉ màu sắc đi cùng tính từ chỉ
màu sắc
Ví dụ: nâu đen, vàng cam…
5. Tính từ chỉ màu sắc đi cùng từ chỉ vật
22 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Ví dụ: xanh da trời, vàng chanh…
6. Từ láy
Ví dụ: xanh xanh, đo đỏ, tim tím, …
* Một số trường hợp dùng kết hợp từ bổ
nghĩa chỉ độ sáng, độ đậm nhạt với các
cấu trúc khác đều được liệt vào cấu
trúc (3). Ví dụ: xanh da trời đậm, xanh
rêu nhạt…
Đối chiếu các cấu trúc từ dùng để gọi tên
phân loại màu sắc trong hai ngôn ngữ Anh-Việt
Nhìn chung, cả hai ngôn ngữ đều nhiều từ
hoặc cách gọi tên và phân loại màu sắc, tuy hình
thức của chúng không hoàn toàn giống nhau và
mức độ thông dụng cũng không như nhau. Xét
về sự tương đồng, cả hai ngôn ngữ đều có các
từ chỉ màu sắc bản (trắng, đen,…). Các từ
chỉ màu sắc cơ bản trong tiếng Anh và tiếng Việt
đều là từ đơn, có hình thức cấu tạo giống nhau.
Nhóm từ ghép biểu đạt màu sắc có một số hình
thức cấu tạo tương đương như nhau. Từ đó có
thể kết luận: tiếng Việt và tiếng Anh đều có các
cấu trúc:
Từ đơn chỉ màu sắc
dụ: vàng (yellow), trắng (white),
brown (nâu), black (đen)…
Hai từ chỉ màu sắc tạo thành từ ghép.
hình thức này trong tiếng Anh,
từ đứng đầu phải có hậu tố -ISH.
Ví dụ: trắng xám (greyish white), reddish
white (trắng hồng)…
Kết hợp từ chỉ màu sắc và từ chỉ vật
dụ: vàng nghệ, đen như than (coal
black), snow white (trắng (như) tuyết)…
Kết hợp từ chỉ màu sắc và từ chỉ mức
độ (độ sáng, đậm nhạt)
Các cấu trúc này hai ngôn ngữ
khác nhau về trật tự từ.
Ví dụ: nâu sẫm (deep brown), deep red
(đỏ thẫm)…
Dùng từ chỉ vật như là từ chỉ màu sắc.
Cấu trúc này tiếng Việt phải có
từ “màu” ở trước.
dụ: màu cánh sen, lilac (màu hoa tử
đinh hương / màu tím hoa cà)…
Dùng hình thức lặp từ, từ láy
Ý nghĩa của việc sử dụng hình thức này khác
nhau ở hai ngôn ngữ. Người Việt thường dùng
từ láy để giảm độ đậm của màu sắc, trong khi
người nói tiếng Anh thường dùng hình thức này
để nhấn mạnh và chỉ đôi khi được tìm thấy trong
các tác phẩm văn học.
Ví dụ: vàng vàng, red red…
Mặt khác, tiếng Anh một hình thức độc đáo
của riêng mình thêm hậu tố vào sau tính từ
chỉ màu sắc để chỉ độ nhạt của màu sắc, trong
khi tiếng Việt là ngôn ngữ không biến hình nên
không có hình thức này.
Ví dụ: reddish, browny,…
Nói về sự dị biệt trong cấu trúc từ chỉ màu sắc
trong hai ngôn ngữ, điều dễ thấy nhất là số
lượng từ chỉ màu sắc cơ bản trong hai ngôn ngữ
không bằng nhau. Tiếng Anh 11 từ chỉ màu
sắc bản (trắng, đen, đỏ, xanh cây, vàng,
xanh nước biển, nâu, tím, hồng, da cam, xám)
trong khi đó tiếng Việt chỉ 9 từ màu sắc
bản (trắng, đen, đỏ, xanh, vàng, nâu, tím, hồng,
xám). Đó là do tiếng Anh có hai màu xanh (green
và blue), tiếng Việt chỉ dùng từ một từ xanh để
biểu thị hai khái niệm màu này. Trong tiếng Anh
màu da cam được cho là màu cơ bản còn tiếng
Việt không cho màu này là màu bản. Ngoài
ra, từ phân tích cấu trúc từ chỉ màu sắc đã đề
cập ở trên cho thấy tiếng Anh mang những đặc
điểm của một ngôn ngữ biến hình nên để tạo ra
các từ đơn chỉ màu phái sinh từ các từ chỉ màu
sắc cơ bản, các hậu tố được thêm vào các từ cơ
bản khác nhau để từ mới đạt được các sắc khác
nhau của các màu. Trong khi đó, tiếng Việt với
tư cách loại hình ngôn ngữ đơn lập nên không
thể tạo nên từ mới bằng cách này mà các từ chỉ
màu phái sinh được tạo ra hoặc bằng phương
thức ghép giữa từ chỉ màu cơ bản với các từ chỉ
sắc độ, hoặc được tạo ra nhờ phương thức láy.
Đối chiếu từ bổ nghĩa chỉ màu sắc trong hai
ngôn ngữ Anh-Việt
23
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Đối với từ bổ nghĩa để gọi tên và phân loại màu
sắc, Kimberly & Nancy (2002)2đã nêu ra một
loạt những từ bổ nghĩa được dùng trong hai
ngôn ngữ (với sự khác nhau về mức độ thường
xuyên mà chúng được sử dụng trong mỗi ngôn
ngữ): VERY-RẤT, PALE-TÁI, BRIGHT-SÁNG /
NHẠT, FRESH-TƯƠI, GRAY-XÁM, GRAYISH-
HƠI XÁM, MEDIUM-VỪA, MODERATE-HƠI,
STRONG-MẠNH / ĐẬM, DARK-ĐẬM, DEEP-
SÂU / THẪM, VIVID-RỰC RỠ, PASTEL-NHẠT
NHẸ, DULL- TỐI / MỜ, OPAQUE-MỜ / ĐỤC.
Bên cạnh đó, cũng theo Kimberly & Nancy
(2002), có nhiều từ bổ nghĩa chỉ riêng trong
mỗi ngôn ngữ3.
TIẾNG ANH TIẾNG VIỆT
FLUORESCENT/NEON (sáng rực)
DILUTE (loãng)
CLEAR (rõ nét)
SOFT (nhẹ)
FADED (mờ nhạt)
DIRTY (bẩn, sậm)
VIBRANT (rực rỡ)
GRAINY (nhòe)
STUNNING (tuyệt vời)
SHARP (chói)
SHINY/REFLECTING (sang chói)
BASIC/SIMPLE (đơn điệu)
BARELY (chỉ)
HEAVY (nặng nề)
SUPER (tuyệt)
REALLY (thật sự)
ÓNG ÁNH
LẤP LÁNH
HƠI HƠI
HƠI
THẬT
ĐẦY
NGỌT
TRƠN, MƯỚT
ĐẮNG
Từ kết quả nghiên cứu của mình, Kimberly &
Nancy (2002) nhận định tiếng Anh có kho từ đơn
chỉ màu sắc rất đa dạng, trong khi vốn từ đơn
trong tiếng Việt không đủ nhiều để gọi tên màu
sắc nên người Việt phải dùng thêm nhiều từ bổ
2 Kimberly A. Jameson, Nancy Alvarado .
The Use of Modifying Terms in the Naming and
Categorization of Color Appearances in Viet-
namese and English. Journal of Cognition and
Culture, 2002, Vol. 2, issue 1, 2002
3 Do các từ tiếng Anh nêu trên là đặc
trưng của ngôn ngữ Anh nên sự biên dịch của
người viết chỉ mang tính tương đối.
nghĩa. Điển hình trường hợp của màu xanh.
Trong tiếng Anh có ba từ GREEN, BLUE, GRU
để chỉ ba màu sắc khác nhau, nhưng trong tiếng
Việt chỉ có một từ XANH. Do đó, trong tiếng Việt
thêm các từ bổ nghĩa để thể gọi tên ba
màu sắc khác nhau đó: XANH CÂY, XANH
DA TRỜI, XANH RÊU.
Ngoài ra, cuộc nghiên cứu này cũng cho thấy
mặc người Anh/Mỹ thường dùng nhiều từ
đơn hơn nhưng đồng thời vốn từ bổ nghĩa cũng
như sự lựa chọn từ của họ phong phú hơn. Điều
đó được giải là do nền tảng văn hóa khác nhau
của hai dân tộc, cùng với sự tác động của các
yếu tố địa hình, khí hậu, môi trường tự nhiên.
Hay nói cách khác, hễ dân tộc
nào nhận thức về một mảng hiện
thực nào đó sâu sắc thì hệ thống
từ vựng định danh tương ứng bao
giờ cũng phong phú (Trịnh Sâm,
2004)4. Ngoài ra, cũng từ kết quả
nghiên cứu này, các tác giả kết
luận các từ gốc (cả từ chỉ màu sắc
bản từ chỉ vật được dùng
như từ chỉ màu sắc) ở cả hai ngôn
ngữ được dùng để chỉ ra sự khác
biệt về màu sắc, còn các từ bổ
nghĩa thì được dùng để chỉ ra sự
khác biệt về độ đậm, nhạt.
Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào việc dạy
và học tiếng Anh cho người Việt
Theo Trịnh Sâm (2004), con người tạo ra ngôn
ngữ bằng hai thao tác chủ yếu: gọi tên hiện thực
ghép những tên gọi ấy lại thành câu, thành
lời. Cơ chế của thao tác thứ nhất là cơ chế định
danh, bao gồm cả các phương thức định danh
hiện thực bằng từ đơn, từ láy, từ phát sinh
từ ghép. Đúng như vậy, trong cả hai ngôn ngữ
Anh-Việt đều có nhiều loại từ đa dạng được
dùng để gọi tên màu sắc. Hầu hết các từ, cấu
4 Trịnh Sâm (2004). Đi tìm bản sắc tiếng
Việt. NXB Trẻ.
24 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
trúc trong tiếng Việt đều có đơn vị tương đương
trong tiếng Anh. Tuy nhiên, người dạy hay người
học tiếng Anh không thể chỉ đơn giản chuyển
các từ tiếng Việt sang các từ tương đương trong
tiếng Anh bởi nó sẽ trở thành một thứ tiếng Anh
xa lạ đối với người bản xứ. Thay vào đó, họ phải
tìm hiểu cách thức, thói quen dùng từ của người
bản xứ để thể diễn đạt ý tưởng của mình
bằng tiếng Anh chuẩn (Standard English).
Trong thế giới được mệnh danh là “thế giới của
sự kết nối” ngày nay, việc nghiên cứu đối chiếu
giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác là không
thể thiếu, đặc biệt là đối với tiếng Anh – thứ tiếng
thông dụng nhất hiện nay. Hơn nữa, trong quá
trình giảng dạy ngoại ngữ trong thời đại mới,
giáo viên không nên chỉ dạy ngoại ngữ như thể
nó chỉ những từ khác với những từ trong ngôn
ngữ của chúng ta. Điều
mới mẻ quan trọng
nhất trong việc soạn giáo
trình giảng dạy sự so
sánh ngôn ngữ bản địa
với ngôn ngữ nước ngoài
để tìm ra những khó khăn
thực sự phải khắc phục
trong quá trình giảng dạy
(Lado, 1957. Hoàng Văn
Vân dịch, 2002)5. Người
dạy khi hiểu được những
vấn đề phức tạp liên
quan đến hai ngôn ngữ
sẽ có khả năng đưa ra
cách giảng dạy phù hợp
hơn cho người học. Cụ
thể trong trường hợp
này, khi các cấu trúc từ
vựng chỉ màu sắc trong
hai ngôn ngữ Anh-Việt,
5 Robert Lado (1957). Linguistics across
cultures. Michigan university Press. Hoàng Văn Vân
dịch (2002). Ngôn ngữ học qua các nền văn hóa.
NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
trong đó sự tương tác giữa từ bổ nghĩa
từ đơn, được hiểu hơn thì việc dạy học
tiếng Anh sẽ trở nên dễ dàng hơn. Trên tất cả,
người dạy ngôn ngữ nên nhớ dòng sông ngôn
ngữ không ngừng chảy (Saussure, 1983)6. Do
những ảnh hưởng tác động của xã hội, lớp
từ vựng trong mỗi ngôn ngữ luôn vận động, sản
sinh và tự làm giàu vốn từ vựng của ngôn ngữ
mình để phục vụ những nhu cầu về mặt diễn đạt
mới, những nhu cầu giao tiếp mà xã hội đặt ra.
Với tư cách là công cụ giao tiếp quan trọng nhất,
ngôn ngữ luôn biến đổi để đáp ứng nhu cầu diễn
đạt. Ngôn ngữ ngày càng phát triển theo thực tế
sử dụng chứ không phải những quy luật bất
biến. Do đó, người dạy hay học ngoại ngữ phải
luôn cập nhật những thông tin mới nhất về thực
tế sử dụng ngôn ngữ.
6 Saussure, F. de (1983). Course in General
Linguistics. Roy Harris. Paris : Duckworth
© freedesignle.com
25
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Nguyễn Ngọc Diệp dịch
hình 5E tả một quá trình giảng dạy liên
tục thể được sử dụng cho toàn bộ chương
trình, các đơn vị bài học đặc thù và các bài học
riêng lẻ. NASA eClips™1 hỗ trợ chu trình học
tập kiến tạo theo mô hình sư phạm 5E, giúp
học sinh xây dựng kiến thức của riêng mình từ
những kinh nghiệm và ý tưởng mới.
Vậy 5Es là gì?
5Es đại diện cho năm giai đoạn của quá trình
dạy học liên tục: Gắn kết (Engage), Khám
phá (Explore), Giải thích (Explain), Phát triển
(Extend) hoặc Tinh chỉnh (Elaborate), Đánh
giá (Evaluate).
1 NASA eClips™ là những phân đoạn video ngắn về giáo
dục - những video này truyền cảm hứng và động viên học sinh,
giúp học sinh thấy được mối liên hệ với thế giới thực bên ngoài.
http://nasaeclips.arc.nasa.gov/
Gắn kết (Engage): Mục đích của giai đoạn Gắn
kết (Engage) là khơi gợi hứng thú của học sinh
và làm cho học sinh tự nguyện tham gia vào bài
học, trong khi đó đánh giá trước được kiến thức
sẵn có của học sinh. Trong trải nghiệm này, học
sinh lần đầu được thử sức rồi tự xác định
nhiệm vụ học. Trong giai đoạn Gắn kết, học sinh
tự tạo ra mối liên hệ giữa kinh nghiệm học tập
trước đây và những kiến thức đang có, tự thiết
kế một cách có tổ chức nền tảng các việc phải
làm cho các hoạt động tiếp sau. NASA eClips™
được thiết kế để gắn kết học sinh. Thông qua
các cuộc thảo luận, video có thể được sử dụng
để khám phá những kiến thức học sinh sẵn có
trước đó. Hình thức sử dụng video giúp khơi gợi
sự tò mò của học sinh và khuyến khích học sinh
tự đặt câu hỏi.
HÌNH PHẠM 5E © pcdn.co
26 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Khám phá (Explore): Mục đích của giai đoạn
Khám phá (Explore) là để học sinh tham gia vào
từng chủ đề; cung cấp cho học sinh cơ hội để tự
xây dựng kiến thức riêng. Trong giai đoạn Khám
phá, học sinh hội tham gia trực tiếp vào
việc giải thích các hiện tượng thực cũng như
kiến thức trong tài liệu học. Khi làm việc theo
nhóm, học sinh cùng xây dựng, tập hợp các kinh
nghiệm chung với mục đích nhấn mạnh việc chia
sẻ và giao tiếp. Giáo viên đóng vai trò là người
hỗ trợ, cung cấp tài liệu và định hướng mục tiêu
cho học sinh. Việc học sinh thực hiện quá trình
truy vấn giúp thúc đẩy việc truyền đạt kiến thức
trong khi khám phá. Học sinh tích cực học tập
bằng cách truyền đạt kiến thức khoa học thông
qua phương pháp truy vấn và các thử thách về
mặt kỹ thuật. Điều nhấn mạnh đặt ra đây là:
Đặt câu hỏi, Phân tích Dữ liệu và Tư duy Phản
biện. NASA eClips™ giúp học sinh tự khám phá
các chủ đề mới. Thông qua việc tự thiết kế hoặc
nghiên cứu, học sinh đưa ra các giả thuyết, kiểm
tra dự đoán của mình dần dần đưa ra kết
luận của mình.
Giải thích (Explain): Mục đích của giai đoạn
Giải thích (Explain) là cung cấp cho học sinh cơ
hội để chia sẻ những đã học được từ trước
đến giờ và tìm hiểu bản chất thực của kiến thức
đó. Giải thích giai đoạn học trò bắt đầu
truyền đạt những đã học được. Cách thức
dùng ngôn ngữ là động lực giúp người học sắp
xếp các chuỗi sự kiện thành một hình thức hợp
lý, lôgic. Việc truyền đạt kiến thức xuất hiện khi
bạn bè trao đổi với nhau, khi người học trao đổi
với người hỗ trợ, và thông qua quá trình thể hiện
kiến thức. Khi học sinh tự hình thành kiến thức,
học sinh có thể sử dụng NASA eClips™ với
mục đích giúp tóm tắt hoặc giải thích ý tưởng
của mình. Các phân đoạn này giúp khai vỡ ra
từ vựng trong các ngữ cảnh và chỉnh sửa hoặc
định hướng lại để thay đổi những quan niệm,
nhận thức sai lầm.
Phát triển (Extend): Mục đích của giai đoạn
Phát triển (Extend) cho phép học sinh viên
vận dụng kiến thức mới tiếp tục khám phá
hệ quả suy luận ra từ những kiến thức đó.
giai đoạn Phát triển, học sinh mở rộng các khái
niệm đã học, tìm mối liên hệ với các khái niệm
khác liên quan áp dụng những hiểu biết
của đó vào thế giới xung quanh mình theo cách
mới. Các phân đoạn của NASA eClips™ giúp
học sinh phát triển và áp dụng những gì đã học
được vào các tình huống mới và lạ.
Đánh giá (Evaluate): Giai đoạn Đánh giá (Evalu-
ate) dành cho cả học sinh và giáo viên, với mục
đích xác định mức độ học tập của học sinh
lượng kiến thức được truyền đạt tiếp nhận.
Evaluate, chữ “E” cuối cùng, đại diện cho việc
dự đoán quá trình đang diễn ra, cho phép giáo
viên xác định xem người học có đạt đủ yêu cầu
hiểu biết về các khái niệm và kiến thức hay
không. Đánh giá kết quả đánh giá quá trình
có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong suốt
quá trình giảng dạy liên tục. Một số công cụ hỗ
trợ trong quá trình dự đoán này là: rubric, đánh
giá của giáo viên, phỏng vấn học sinh, hồ
học sinh, các sản phẩm của phương pháp
học tập qua vấn đề và học tập qua dự án. Phân
đoạn video thể được sử dụng để xác định
chiều sâu kiến thức của học sinh. Học sinh sẽ
hào hứng thể hiện sự hiểu biết của mình thông
qua các tạp chí, bản vẽ, mô hình thành quả
nhiệm vụ của mình.
Ai đã phát triển ra mô hình 5E?
Nhóm Nghiên cứu Chương trình giảng dạy Khoa
học Sinh học (BSCS2-The Biological Sciences
Curriculum Study), được dẫn đầu bởi nhà nghiên
cứu chủ chốt Rodger Bybee, đã phát triển hình
phạm cho thuyết kiến tạo, được gọi “Five Es”
2 BSCS là một trung tâm giáo dục hỗ trợ các tài nguyên
dạy học, hỗ trợ giáo dục và tiến hành nghiên cứu và đánh giá các
lĩnh vực khoa học và công nghệ. Tổ chức BSCS được thành lập
vào năm 1958 và chính thức thành tổ chức phi lợi nhuận độc lập
vào năm 1973, trụ sở tại Colorado Springs, Colorado.
27
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
(5Es). Các mô hình khác đã được điều chỉnh phát triển từ mô hình gốc bao gồm hình 6E và 7E.
Thuyết kiến tạo là gì?
Thuyết kiến tạo là một triết lý về học tập trong đó mục tiêu cần đạt là người học tự xây dựng hiểu
biết của mình về các ý tưởng mới. Hai trong số các nhà nghiên cứu kiến tạo lỗi lạc nhất là: Jean
Piaget3 (các giai đoạn phát triển nhận thức) và Howard Gardner4 (đa trí tuệ).
3 Jean Piaget là nhà tâm lý học người uỵ Sĩ, ông được biết tới qua những nghiên cứu về sự phát triển về trẻ con.
4 Howard Gardner (tên đầy đủ là Howard Earl Gardner) là nhà nghiên cứu phát triển tâm lý người Mỹ, ông rất nổi tiếng bởi
uyết đa trí tuệ, đã được đề câp đến trong quyển Cơ cấu trí khôn: Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn - NXB Giáo dục 1997 (Frames of
Mind: e eory of Multiple Intelligences được ông viết năm 1983).
28 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Lê Thanh Hằng tổng hợp
Giữ người học có động lực trong suốt một khóa
học eLearning một thách thức đối với ngay
cả những nhà thiết kế dày dặn nhất. Không chỉ
khó khăn để giữ học viên tham gia ofine,
còn huấn luyện không đồng bộ gặp hàng loạt
những thách thức lớn hơn. Không có cách nào
để đọc tín hiệu thị giác nếu sinh viên đang buồn
chán hoặc cho một người hướng dẫn để chuyển
hướng đào tạo nếu có những câu hỏi. Các khóa
học trực tuyến cũng cung cấp một tính năng ẩn
danh có thể ngăn chặn một số học viên tham gia
vào tất cả các khóa học.
Vậy, chìa khóa để thúc đẩy người học đảm
bảo họ theo đúng tiến trình khóa học gì?
quyết là để cách thiết kế với các yếu tố thúc đẩy
động lực trước, trong và thậm chí sau khi hoàn
thành khóa học. Cuối cùng, bạn không thể khiến
ai đó học, mà không tạo ra một môi trường khu-
yến khích học tập.
Dưới đây là một số đề nghị cách để duy trì động
lực học trước, trong và cả sau khóa học eLearn-
ing của bạn.
Trước khóa học
Kỹ thuật #1: Bắt đầu bằng việc đặt nền móng
và xây dựng kỳ vọng cho khóa học.
Tìm ra một cách để níu kéo người học trước khi
chúng bắt đầu khóa học. Điều này có thể được
thực hiện thông qua một hoạt động trước khi bắt
đầu học hoặc một đoạn video ngắn giới thiệu nội
dung. Bằng cách tạo ra sự mong đợi, bạn đang
xây dựng sự hứng thú cho học viên và động viên
họ thậm chí trước khi truy cập nội dung.
Tạo động lực cho các khhọc
trực tuyến
© verywellmind.com
29
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Ý tưởng: Hãy tạo một tiêu đề hấp dẫn cho khóa
học. Điều này sẽ tạo ra sự quan tâm cũng như
sự chú ý của người học.
Kỹ thuật # 2: Truyền đạt kỳ vọng và mục tiêu
trước khi khóa học bắt đầu.
Bằng cách chia sẻ với các học viên những
họ có thể mong đợi, bạn đã đang động viên các
học viên để đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra. Hãy
rất rõ ràng về cách nội dung sẽ được tổ chức và
đặt ra các kết quả mong đợi. Điều này loại bỏ
một số lo lắng và bắt đầu có được những người
học cảm thấy hào hứng về việc hoàn thành các
nhiệm vụ đặt ra.
Theo GetAdministrate1, có một số cách để làm
điều này:
● Cung cấp đề cương chi tiết với các kỳ
vọng và bài tập.
● Liệt kê các kỳ vọng ở các slide bắt đầu
khóa học của bạn.
● Chỉ ra những nét chính trong phần
tổng quan khóa học trực tuyến.
Kỹ thuật # 3: Biết học viên của bạn là ai
Tìm hiểu người học của bạn là ai và đánh giá nhu
cầu của họ trước khi thiết kế khóa học. Nếu
thể, gửi một cuộc thăm dò để xác định các hạng
mục như những nhiệm vụ nào người học cần để
hoàn thành công việc của họ, tìm hiểu xem họ
đã quen thuộc với các thuật ngữ kỹ thuật và xác
định mức độ kinh nghiệm trung bình người học.
Đánh giá kỹ lưỡng thể cung cấp chìa khóa
xác định những yếu tố sẽ thúc đẩy họ. Sự thấu
hiểu này có thể là yếu tố để xây dựng các kết nối
tình cảm giữa người học và các nội dung, tiếp
tục tăng cường động lực nội tại.
Link tới 27 câu hỏi gợi ý để giúp bạn thực sự
hiểu người học.2
1 https://www.getadministrate.com/blog/managing-ex-
pectations-when-training-communicating-expectations-to-stu-
dents/
2 http://info.shielearning.com/blog/get-to-know-
Kỹ thuật # 4: Giải thích giá trị khóa học của
bạn trước
Hãy để cho người học biết một cách cụ thể nhất
những khóa học eLearning này sẽ cải thiện
các kỹ năng liên quan đến hiệu suất công việc
của họ. Chỉ ra sự liên quan nội dung sẽ trực
tiếp làm tăng số tiền người học sẵn sàng chi trả.
Giải thích cách khóa học có thể giúp họ làm chủ
một kỹ năng cụ thể hoặc giải quyết một vấn đề.
Liên kết nội dung với các sự kiện hiện tại và tình
huống thực tế để họ nhìn thấy sự liên quan.
Trong khóa học
Kỹ thuật # 1: Thiết kế cho sự tham gia tích
cực.
Năm 2014, nghiên cứu của Freeman3 và các
cộng sự đã chỉ ra tác động của các hoạt động
tích cực tới kết quả của học sinh trong các môn
Khoa học, Kỹ thuật và Toán học. Nghiên cứu đã
tìm thấy rằng học tập chủ động tăng tính lưu giữ,
hiểu biết, và vượt qua giới hạn.
Tạo các hoạt động khuyến khích sự khám phá.
Con người học tốt nhất từ kinh nghiệm, trải
nghiệm càng xác thực tạo hội tham gia,
việc học càng tốt hơn. Trình bày một vấn đề phổ
biến cung cấp các nguồn lực cho các học
viên để tạo ra các giải pháp riêng của họ. Việc
kiểm soát của quá trình học tập cung cấp động-
lực-tự sinh sự tham gia sâu hơn trong nội
dung.
Kỹ thuật # 2: Cung cấp phản hồi có liên quan
và trực quan tiến trình.
Bao gồm các quiz, trò chơi hoặc bài tập tương
tác cung cấp các loại thông tin phản hồi giúp
người học theo dõi sự tiến bộ của mình. Đảm
bảo rằng các thông tin phản hồi là ngay lập tức
là để sinh viên có thể sử dụng các thông tin cho
bài tập tiếp theo. Tìm cách để kết hợp một hình
ảnh trực quan chỉ ra sự tiến bộ, chẳng hạn như
your-learners-better-elearning
3 https://www.pnas.org/content/111/23/8410.abstract
30 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
một cột đo sự tiến bộ được điền đầy khi mô-đun
được hoàn thành. Động lực sẽ tăng khi thành
công là trực quan.
Kỹ thuật # 3: Sử dụng kết hợp các chiến lược
giảng dạy.
Không chỉ cung cấp sự đa dạng gia tăng sự
tham gia, mà người học nhất định có thể
thành công với các chiến lược khác nhau dựa
trên phong cách học tập nhân của họ. Các
ví dụ phối hợp, các case study, hình ảnh in-
fographics, kịch bản, video, hợp tác trò chơi
khuyến khích người học chủ động theo những
cách khác nhau. Thông qua tiếp xúc với nội
dung đa dạng, họ sẽ tiếp tục tham gia và, do đó,
được tạo động lực.
Kỹ thuật # 4: Khuyến khích giao tiếp.
Trong khi điều này có thể khá thử thách qua
eLearning, tìm cách để học sinh có thể liên kết
với người khác học cùng khóa học có nội dung
tương tự như thông qua các phương tiện truyền
thông xã hội, blog hoặc diễn đàn thảo luận. Học
tập là xã hội, và con người có nhiều thành công
trong hợp tác hơn là cô lập. Chia sẻ ý tưởng và
nhận được phản hồi từ những người khác giữ
người học có động lực để học hỏi.
Kỹ thuật # 5: Phá vỡ nội dung của bạn.
Thiết kế eLearning tốt phân nội dung thành từng
đoạn theo cách người học nhớ được những gì
họ đã học được. Mẩu nhỏ thông tin không chỉ là
dễ dàng hơn để đồng hóa, chúng còn cho
phép người học hoàn thành các hoạt động một
cách nhanh chóng và theo một cách thuận tiện
cho họ. Phân đoạn giúp tạo ra một khuôn khổ
nội bộ để xử lý thông tin, do đó làm cho người
học không chỉ thành công hơn mà còn thêm
động lực để tiếp tục quá trình học tập của mình.
Những con số không nói dối: Tại sao học tập
bite-sized là tốt hơn cho người học của bạn (và
cả bạn)4
Sau khóa học
Kỹ thuật # 1: Chúc mừng hoàn thành khóa
học
Người học vẫn có động lực khi họ có nhận thức
về những thành tích của họ. Bạn không chỉ nên
tìm cách để cho người học nhận được thông tin
phản hồi trong suốt khóa học, mà cũng tìm cách
khuyến khích học tập, ngay cả sau khi khóa học
kết thúc. Thử thách người học để họ tiếp tục ng-
hiên cứu tìm hiểu để giải quyết các vấn đề phức
tạp hơn. Cung cấp một giấy chứng nhận khóa
học hoặc một giải thưởng nhỏ hoặc công nhận
cho một công việc thực sự rất tốt.
Kỹ thuật # 2: Cung cấp Takeaways5
Cung cấp cho người học một cái gì đó để quay
trở lại với công việc của họ, chẳng hạn như trợ
giúp công việc, một câu trích dẫn hoặc info-
graphic. Nếu không bất kỳ sự củng cố nào,
người học thể quên lên đến 90% khóa học
trong vòng một vài ngày. Giúp họ nhớ với một
cái gì đó cụ thể có quan hệ trực tiếp trở lại
nội dung. Họ càng nhớ, họ sẽ càng có động lực
để thực hành các kỹ năng đã học trong suốt
khóa học.
Giữ người học được động lực là một quá trình
khó khăn, đặc biệt là với các khóa học eLearn-
ing. Đánh bại các thách thức thúc đẩy động lực
bằng cách xây dựng kỳ vọng trước khóa học,
giữ học viên tham gia liên tục trong suốt quá
trình học và giữ cho họ suy nghĩ dài hơn sau khi
khóa học kết thúc. Các học viên nên luôn luôn
đứng đầu trong tâm trí của bạn khi bạn thiết kế
bởi vì thành công của họ dẫn đến động lực nội
sinh, từ đó dẫn đến mục tiêu cuối cùng của việc
học.
4 https://www.shielearning.com/blog/numbers-dont-
lie-why-bite-sized-learning-is-better-for-your-learners-and-
you-too
5 Những thứ có thể đem về và dùng ngay được, hoặc
một thông điệp có thể thẩm thấu dần
31
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Dạy thế nào
Số 9 - 2019
Katherine Casey1 | Diệu Nguyễn dịch
Bài viết dưới đây tóm lược phân tích của Kath-
erine Casey (học vị Tiến sỹ ĐH Harvard, Giám
đốc Trung tâm Thực hành Nghiên cứu Sáng tạo
tại Hệ thống các trường Công Denver) về những
chiến lược và ý tưởng lãnh đạo nhằm xây dựng
một trường học chất lượng, bền vững, hướng tới
phát triển năng lực cho học sinh và giáo viên.
1 Casey, K. (2019) Actions - Ideas and strategies for
school leaders. Truy cập từ: https://www.competencyworks.org/
uncategorized/actions-ideas-and-strategies-for-school-leaders/
Chương trình cải cách giáo dục mới của Việt
Nam tới đây được xây dựng theo hướng phát
triển năng lực cho người học. Theo guồng quay
đó, phương pháp sư phạm (giáo viên) và
chế vận hành trường học (nhà quản lý) cũng
cần thích ứng, hay nói chính xác hơn, tiên
phong cải tiến để tạo ra một môi trường giáo
dục phù hợp với mục tiêu mới. Là một nhà lãnh
đạo trường học, ắt hẳn quý vị vừa tự hào lại vừa
dũng cảm với trọng trách trên vai. Có thể không
trực tiếp giảng dạy học sinh, nhưng những quyết
định của đội ngũ quản lý, những giá trị mà người
lãnh đạo làm gương hay những hành động hàng
LÃNH ĐẠO GIÁO DỤC THEO ĐỊNH HƯỚNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
32 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 9 - 2019
© hanoverresearch.com
ngày, dù vô tình hay có chủ đích, đều ảnh hưởng
trực tiếp tới giáo viên và trường học nói chung.
Để đào tạo, nuôi dưỡng và phát triển giáo viên
trong một nền giáo dục định hướng phát triển
năng lực, Casey đề xuất 3 ý tưởng lớn 10
chiến lược hành động dành cho các nhà lãnh
đạo trường học tại Hoa Kỳ. Quý độc giả, nếu
thấy hữu ích, có thể cụ thể hóa và chắt lọc sao
cho phù hợp với đặc thù của trường mình. Xây
dựng và vận hành trường học là một quá trình
thay đổi không ngừng phụ thuộc lớn vào hiện
trạng thực tế, những chia sẻ dưới đây không
phải “món ăn sẵn trên bàn tiệc” ai cũng
thể dùng ngay. Thay vào đó, hãy sử dụng chúng
như một gợi ý cho các cuộc thảo luận về quản
trị hay cải tổ trường học.
3 quan điểm quản trị trường học
1. Trường học là nơi thực hành triết lý và các
chính sách bình đẳng trong giáo dục. Ví dụ,
ưu tiên tính đa dạng và đại diện khi tuyển dụng,
tạo môi trường hòa nhập dành cho mọi giáo
viên, hỗ trợ giáo viên đồng thời trao quyền tự
chủ và trách nhiệm cho mọi người, phân bổ thời
gian để giáo viên tạo ra kết nối bền chặt với học
sinh, gia đình và đồng nghiệp.
2. Lãnh đạo là tấm gương phản chiếu tư duy.
Suy nghĩ hành động của nhà lãnh đạo tác
động sâu sắc tới suy nghĩ hành động của
các giáo viên trong trường học. Tư duy và quan
điểm lãnh đạo của mỗi người sẽ thể hiện trong
những hành động và giao tiếp hàng ngày với
giáo viên hay những quyết định về nguồn lực
nhân sự, tài chính, thời gian và không gian.
3. Thời gian có tác dụng đòn bẩy quan trọng.
Lãnh đạo thường không kiểm soát được mọi
biến số trong trường học nhưng lại tương đổi tự
chủ về mặt thời gian. Bên cạnh vô vàn nhiệm vụ,
dành thời gian để tháo gỡ các nhu cầu của giáo
viên đóng vai trò quan trọng. Theo tính chất bắc
cầu, giáo viên sẽ an tâm và sẵn sàng dành thời
gian cho học sinh.
10 chiến lược hành động
Khởi động
1. Gắn kết nhân viên, học sinh các gia đình
trong việc chia sẻ các góc nhìn khác nhau về
hoạt động dạy học diễn ra tại trường, trong
việc sớm xây dựng kế hoạch đánh giá học
tập cũng như thiết lập những mối quan hệ khăng
khít giữa các bên.
2. Hiểu trường mình: qua những chia sẻ của các
bên liên quan (học sinh, gia đình, giáo viên…),
đánh giá thực trạng công tác giảng dạy và quản
trường học, hãy kiên định với sứ mệnh của
trường và tìm kiếm giải pháp trước những khó
khăn.
33
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 9 - 2019
3. Hiểu phong cách lãnh đạo của bản thân từ
những thông tin trước đó, kết hợp với lời khu-
yên/góp ý từ cố vấn và suy ngẫm của bản thân.
Xây dựng cơ chế thúc đẩy giáo viên học tập
phát triển chuyên môn
4. Liên kết tầm nhìn hướng dẫn phạm với
năng lực của giáo viên. Hãy bắt đầu bằng câu
hỏi “Giáo viên những kỹ năng nào để thành
công trong mô hình trường học này? Thành thạo
các kỹ năng đó có nghĩa là như thế nào?”, sau
đó xác định “những nguyên tắc sư phạm và lãnh
đạo quan trọng nhất” và cuối cùng so sánh sự
tương đồng giữa “năng lực giáo viên” và “năng
lực học sinh”.
5. Cân nhắc sự lựa chọn của giáo viên. Các buổi
đào tạo chuyên môn thường xoay quanh một
nội dung dưới một hình thức thức triển khai, tại
một địa điểm theo một lịch trình đã định! Hãy
giúp giáo viên khám phá ra nhu cầu học tập của
bản thân tự để xuất phương pháp học tập
(nhu cầu này cần phù hợp với triết lý và nguyên
tắc sư phạm của trường học).
6. Để giáo viên chứng minh sự tiến bộ của bản
thân. Đừng đánh giá họ bằng cách điểm danh
trong các buổi đào tạo chuyên môn, bởi vì sự có
mặt đó không chứng minh được kiến thức, năng
lực sự tiến bộ của họ. Thay vào đó, thể
tìm hiểu sự tiến bộ của họ thông qua những suy
nghĩ và phản hồi của họ sau buổi học, kết hợp
với các hình thức thể hiện hiểu biết và kỹ năng
khác nhau.
Thúc đẩy sự hợp tác và trách nhiệm lãnh đạo
7. Ưu tiên sự hợp tác giữa các giáo viên, ví như
dự giờ và góp ý bài giảng. Trường học ưu tiên
phát triển chuyên môn và năng lực học tập của
giáo viên khi hợp tác trở thành một yêu cầu
bản trong các hoạt động thường ngày. Giáo viên
có thể cùng nhau lập kế hoạch giảng dạy, cùng
tìm ra giải pháp giúp đỡ học sinh, quan sát/
trao đổi phương pháp dạy học cho nhau. Hãy
biến hợp tác và làm việc nhóm trở nên ý nghĩa
đối với mỗi giáo viên. Hãy giải thích mục đích và
hướng dẫn cơ chế hợp tác.
8. Xây dựng hệ thống phân quyền lãnh đạo
quản . Distributed leadership (tạm dịch: phân
quyền lãnh đạo) là chìa khóa tạo nên những cá
nhân trách nhiệm, sẵn sàng hợp tác, và cơ
hội để họ trau dồi bản thân.
Nuôi dưỡng sự bình đẳng trong giáo dục
9. Ưu tiên sự đa dạng và tính đại diện của nguồn
nhân lực và xây dựng môi trường hòa nhập, đề
cao sự khác biệt và dung hòa các nền văn hóa
khác nhau. Điều này giúp giáo viên tạo ra một
môi trường đa dạng mà an toàn cho học sinh.
10. Đồng hành cùng giáo viên trong việc loại bỏ
chịu trách nhiệm với những định kiến cá nhân.
Khi trường học chuyển tiếp sang hình giáo
dục bình đẳng lấy học sinh làm trọng tâm, tất
cả mọi giáo viên đều cần hiểu và loại bỏ những
định kiến này. Nhà lãnh đạo trường học thể
đơn giản hóa quá trình chuyển tiếp, giải thích
với giáo viên lý do và sự cấp thiết dẫn đến thay
đổi và cam kết sẽ hỗ trợ tối đa.
34 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Quản lý giáo dục
Số 9 - 2019
Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Đình Bưu1
Khi nói đến giáo dục thì nhiều người mới quan
tâm đến giáo dục chính quy (giáo dục ban đầu)
trong các nhà trường (mầm non, tiểu học, trung
học cơ sở, phổ thông trung học, trung cấp, cao
đẳng, đại học) đối với thế hệ trẻ chưa nghĩ
đến còn một nhiệm vụ vô cùng quan trọng nữa
của giáo dục chăm lo việc học tập thường
xuyên cho người lớn (giáo dục tiếp tục). Nếu
như đối tượng của giáo dục chính quy chỉ chiếm
khoảng 25% dân số thì đối tượng của giáo dục
tiếp tục lại chiếm tới hơn 70% dân số. Giáo dục
1 Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Ủy
ban nhân dân tỉnh Thanh Hoá
chính quy sẽ tạo ra nguồn nhân lực chất lượng
cao cho cả tương lai gần và xa còn giáo dục tiếp
tục sẽ bổ sung những kiến thức và kỹ năng còn
thiếu để góp phần nâng cao trình độ, năng lực
nhiều mặt cho những người đang trực tiếp tạo
ra sản phẩm vật chất và tinh thần cho hội, tạo
ra năng suất lao động và tăng trưởng GDP cao
hơn…
Thời gian qua Đảng Nhà nước đã có nhiều
chủ trương, giải pháp để giải quyết việc học tập
cho người lớn, nhất kể từ khi thành lập Hội
Khuyến học đến nay, việc tổ chức học tập cho
người lớn có bước tiến bộ lớn:
CHĂM LO VIỆC HỌC TẬP THƯỜNG XUYÊN
CHO NGƯỜI LỚN, NHIỆM VỤ RẤT QUAN
TRỌNG BỨC THIẾT HIỆN NAY
© H. Quang - Giadinh.net.vn
35
Nội san Dạy học | Day-hoc.orgSố 9 - 2019
Góc nhìn
Các Trung tâm học tập cộng đồng xã, phường,
thị trấn do Hội Khuyến học tham mưu cho chính
quyền thành lập mỗi năm cả n ước thu hút khoảng
hơn 10 triệu lượt người lớn học tập. Phong trào
học tập thường xuyên của cán bộ, công chức,
viên chức và công nhân lao động đã tiến bộ hơn
trước nhiều.
Phong trào xây dựng gia đình, dòng họ, khu
dân hiếu học trong giai đoạn 2000 2014
và phong trào xây dựng gia đình, dòng họ, cộng
đồng, cơ quan, doanh nghiệp học tập hiện nay
đã tiếp sức thêm cho người lớn học tập tốt
hơn… Các sở giáo dục thường xuyên, giáo
dục nghề nghiệp ở cấp huyện và các trung tâm
giáo dục thường xuyên các trường đại học,
cao đẳng trong tỉnh cũng góp phần tăng nhanh
số lượng người lớn vừa làm vừa học với các
trình độ khác nhau. Nhờ đó mà đã đóng góp vào
tỷ lệ người lao động được đào tạo của cả nước
đến năm 2018 đạt khoảng 60%; Tỷ lệ lao động
được đào tạo và được cấp chứng chỉ trở lên
chiếm trên 20%.
Kết quả học tập của người lớn trong thời gian
qua đã góp phần rõ rệt trong việc nâng cao
trình độ dân trí, nhất nâng cao nhận thức về
nhiều mặt nên tạo thêm sự nhất trí về chính trị
tinh thần trong hội. Nhiều hộ nông dân
nhờ tiếp thu ứng dụng khoa học, kỹ thuật
mà tổ chức được các mô hình sản xuất mới, du
nhập các giống cây trồng, vật nuôi có năng suất
hiệu quả kinh tế cao; du nhập thêm ngành
nghề mới… đóng góp tích cực vào xóa đói giảm
nghèo tăng nhanh số hộ khá, giàu. Một số
doanh nghiệp do thường xuyên đào tạo lại cho
công nhân lao động nên chất lượng sản phẩm
và năng suất lao động cao hơn trước. Khu vực
cơ quan nhà nước do đào tạo và đào tạo lại liên
tục mà cán bộ, công chức, viên chức cơ bản đã
đạt chuẩn, một bộ phận còn đạt trên chuẩn vv.
Tuy nhiên, kết quả đó mới chỉ là bước đầu. Trong
tỉnh vẫn còn một bộ phận không nhỏ người dân
chưa được học tập, nhất là ở khu vực miền núi,
ven biển và công nhân lao động trong nhiều
doanh nghiệp… Nhìn chung việc tổ chức học
tập cho người lớn còn chưa đạt được yêu cầu
đẩy nhanh hơn việc nâng cao dân trí và đào tạo
nghề để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
phục vụ mục tiêu xây dựng con người Việt Nam,
xây dựng và phát triển văn hóa, phát triển kinh
tế, nhất trước yêu cầu của cách mạng công
nghiệp 4.0…
Những tồn tại, yếu kém, vướng mắc trong việc
tổ chức học tập cho người lớn là do các nguyên
nhân sau đây:
1. Do còn chưa nhận thức đầy đủ vị trí,
yêu cầu và tầm quan trọng của giáo dục
người lớn nên việc lãnh đạo, chỉ đạo
chưa được đề cao. Còn một bộ phận
khá đông người dân công chức, viên
chức, công nhân lao động chưa thấy sự
bức thiết của việc học tập thường xuyên,
học tập suốt đời nên còn thỏa mãn với
những hiểu biết của mình. Quan niệm chỉ
cần học một lần trong đời là đủ còn nặng
nề. Bệnh hình thức trong học tập: Học đối
phó, học không thực chất, học giả bằng
thật… còn phổ biến.
Đề án xây dựng hội học tập (XHHT)
giai đoạn 2012 – 2020 đã được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt và nhiều tỉnh,
thành phố đã có chỉ thị của cấp ủy Đảng
và chính quyền tỉnh đã phê duyệt Đề án
XD XHHT trên địa bàn. Trong đó nhiệm
vụ trọng tâm là giáo dục người lớn nhưng
sự chuyển biến vẫn còn hạn chế; một số
nơi việc lãnh đạo, chỉ đạo XD XHHT còn
bị coi nhẹ nên kết quả đạt được chưa rõ
nét.
2. Hệ thống giáo dục trong cả nước đã
hình thành cả 2 bộ phận giáo dục chính
36 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Góc nhìn
Số 9 - 2019
quy và giáo dục thường xuyên và đạt
được nhiều kết quả quan trọng nhưng
thực chất giáo dục thường xuyên vẫn
chưa đặt tương xứng như giáo dục chính
quy. Nhiều nơi các cấp ủy, chính quyền
và ngay cả các cấp quản lý giáo dục chỉ
mới tập trung sức lực vào phát triển
quản lý giáo dục chính quy còn giáo dục
thường xuyên cho người lớn thì ít được
quan tâm.
3. Thiếu cơ chế, chính sách đầy đủ, đồng
bộ và thiếu nhiều điều kiện để phát triển
mạnh mẽ quy mô, hình thành hệ thống
nâng cao chất lượng, hiệu quả của
giáo dục thường xuyên nên ngành học
này chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu học
tập của người dân. Nhiều Doanh nghiệp
chưa dành thời gian, kinh phí để tổ chức
việc học thường xuyên, đào tạo lại công
nhân lao động nên quyền được học tập
không được thực hiện cũng khó
nâng cao được năng suất lao động ở đó.
Đất nước ta đã đang đổi mới thành công,
đạt được thành tựu ý nghĩa lịch sử nhưng
so với các nước trong khu vực thì còn khoảng
cách khá xa. Một trong những nguyên nhân
quan trọng bậc nhất chất lượng nguồn nhân
lực và năng suất lao động đều thấp. Do đó, nếu
không đổi mới căn bản toàn diện giáo dục
và đào tạo thành công, nếu không làm cho mỗi
người tự giác học tập, nâng cao trình độ, năng
lực bắt kịp trình độ khoa học công nghệ của
thế giới, nhất cuộc cách mạng công nghiệp
4.0 thì chẳng những không thể đuổi kịp mà còn
có khoảng cách với các nước xa hơn nữa.
Để đổi mới, mở rộng nâng cao chất lượng
học tập thường xuyên của người lớn rất cần một
tầm nhìn, cần sự chuyển động đồng bộ của cả
hệ thống chính trị như sau:
Một là: Tuyên truyền, vận động để mỗi
người nhận thức đầy đủ về sự cấp thiết
của việc học tập thường xuyên như cơm
ăn, áo mặc hàng ngày để tự giác, tự học
là chính và vận động người khác học tập
thường xuyên, học tập suốt đời, học cho
mình và học cho tiến bộ hội. Học tập
để nâng cao trình độ, năng lực bắt kịp
sự phát triển của nhân loại là con đường
ngắn nhất để nước ta rút ngắn khoảng
cách tiến tới sánh vai với các cường
quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong
muốn. Học tập cũng là cơ hội tốt nhất để
lập thân, lập nghiệp, thoát nghèo và làm
giàu bền vững.
Hai là: Tổng kết việc XD XHHT giai đoạn
2012-2020 theo Quyết đinh 89/QĐ -TTg
của Thủ tướng Chính phủ để có chủ
trương, giải pháp, nhất Đề án xây
dựng xã hội học tập giai đoạn 2021- 2030
nhằm tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện
tốt hơn giai đoạn trước.
Ba là: Đẩy mạnh phong trào xây dựng
các mô hình gia đình học tập; khu dân cư,
dòng họ, cơ quan, doanh nghiệp học tập;
Xã, phường, thị trấn học tập huyện,
thị, thành phố học tập thật thực chất để
đảm bảo cho việc học tập thường xuy-
ên của mỗi người thành công, trở thành
công dân học tập.
Bốn là: Tiếp tục củng cố, đổi mới, nâng
cao chất lượng hoạt động và hoàn thiện
các thiết chế học tập dành cho người lớn
như các Trung tâm học tập cộng đồng
xã, phường, thị trấn; trung tâm giáo dục
nghề nghiệp – giáo dục thường xuyên
cấp huyện, cấp tỉnh, trung tâm giáo dục
thường xuyên ở các trường cao đẳng,
đại học; các thư viện cấp xã, huyện,
tỉnh; các nhà văn hóa, bảo tàng; Các loại
37
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Góc nhìn
Số 9 - 2019
câu lạc bộ, các chương trình dạy học
trực tuyến hoặc trên hệ thống phát thanh
– truyền hình.v.v. Với sự đầu tư của nhà
nước cùng với chế hội hóa thỏa
đáng.
Cần soát xem xét ban hành các chế,
chính sách mới phù hợp, như: Quy chế tổ chức
hoạt động của các trung tâm học tập cộng đồng,
quy chế hoạt động của các thiết chế khác giáo
dục ngoài nhà trường khác và cơ chế tài chính,
cung cấp tài liệu, học liệu, sở vật chất cho
giáo dục người lớn… cho giáo dục người lớn.v.v.
38 Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Góc nhìn
Số 9 - 2019
Ban Biên tập Lộn xộn
Hoàng Anh Đức
Đặng Thanh Giang
Lê Thanh Hằng
Diệu Nguyễn | Wise Consulting Finland
Hoàng Giang Quỳnh Anh | Học viện Agile
Kim Kim | Hogwarts
Nguyễn Ngọc Diệp | Hogwarts
Nguyễn Yến Chi | Hogwarts
Ngọc Lan | Hogwarts
Trâm Lê | InnEdu
Đoàn Hà Thu | BUV
Khách mời
NGƯT Nguyễn Đình Bưu | Thanh Hoá
Lê Thái Hưng | Đại học An Giang
Logo | Hà Dũng Hiệp
Chế bản | Quách Anh
Liên hệ: bientap@day-hoc.org
Nội san Dạy học | Day-hoc.org
Số 9 | tháng 3 - 2019
Ban Biên tập Lộn xộn
Học để Dạy,
và Dạy để Học
ResearchGate has not been able to resolve any citations for this publication.
ResearchGate has not been able to resolve any references for this publication.