Book

Sức tải môi trường Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long (Environmental capacity of Ha Long - Bai Tu Long Bay)

Publisher: Khoa học tự nhiên và Công nghệ. Hà Nội., Editor: Nguyen Khoa Son, ISBN: 978-604-913-063-2

ABSTRACT LỜI NÓI ĐẦU
Khu vực Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long thuộc tỉnh Quảng Ninh với hơn hai ngàn đảo là vùng biển đẹp nổi tiếng trên thế giới và giàu tiềm năng du lịch sinh thái với cảnh quan thiên nhiên tuyệt sắc và những hệ sinh thái điển hình, độc đáo như rừng ngập mặn, rạn san hô, bãi cát biển, hồ nước mặn và tùng áng, hang động v.v. Năm 1994, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới theo tiêu chí 3 của Công ước Di sản Thế giới, có cảnh quan thiên nhiên nổi bật với vẻ đẹp mang giá trị thẩm mỹ cao. Năm 2000, UNESCO công nhận vịnh lần thứ hai là di sản thế giới có giá trị toàn cầu nổi bật về địa chất lịch sử, địa mạo karst theo tiêu chí 1 của Công ước. Ngày 11/11/2011, Vịnh Hạ Long đã được bình chọn là một trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới mới do Tổ chức New7 Wonders thực hiện. Khu di sản Thế giới Vịnh Hạ Long nếu được mở rộng không gian sang cả Vịnh Bái Tử Long thì rất có tiềm năng đề nghị UNESCO một lần nữa công nhận là Di sản Thế giới về đa dạng sinh học.
Không chỉ nổi bật về giá trị bảo tồn tự nhiên và du lịch sinh thái, quần thể vịnh - đảo Hạ Long – Bái Tử Long còn có những tiềm năng to lớn về tài nguyên sinh vật, phi sinh vật và tài nguyên vị thế cho phép phát triển nhiều lĩnh vực kinh tế quan trọng của địa phương và của cả nước. Đặc biệt, khu vực vịnh nằm trên vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc, nối tuyến với hai hành lang kinh tế Quảng Ninh - Hải Phòng – Nam Ninh và Quảng Ninh - Hải Phòng – Côn Minh thuộc tiểu vùng Mê Kông.
Trong những năm gần đây, kinh tế của tỉnh Quảng Ninh đã phát triển nhanh chóng, từ năm 2006 đã trở thành một trong 10 tỉnh, thành có mức thu ngân sách lớn nhất của cả nước. Thành tựu này có sự đóng góp rất lớn từ các hoạt động kinh tế tại khu vực Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long, được xác định là vùng phát triển động lực của tỉnh với sự tập trung của các ngành kinh tế mũi nhọn như khai thác và chế biến than, công nghiệp, cảng và giao thông thuỷ, du lịch - dịch vụ, nuôi trồng khai thác, chế biến thuỷ sản v.v. Tuy nhiên, phát triển kinh tế làm gia tăng mâu thuẫn với bảo tồn tự nhiên, bảo vệ tài nguyên - môi trường và cảnh quan thiên nhiên của khu vực. Sự suy giảm chất lượng môi trường nước, tăng quá trình bồi lắng gây nông hoá đáy vịnh, suy giảm tài nguyên sinh vật, biến dạng cảnh quan đang là những vấn đề môi trường nổi cộm ở khu vực này. Chỉ riêng hoạt động khai thác than đá cũng đã gây ra các tác động đáng lo ngại như gây bụi cho không khí, gây đục nước, bồi lắng đáy vịnh, ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng. Chính vì vậy, phát triển kinh tế đảm bảo sử dụng hợp lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, hài hoà với lợi ích bảo tồn tự nhiên và bảo vệ môi trường khu vực Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long trở thành yêu cầu cơ bản trong chính sách, chiến lược của tỉnh Quảng Ninh theo định hướng phát triển bền vững.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, Nhà nước và tỉnh Quảng Ninh đã quan tâm và tạo điều kiện cho phép thực hiện một số đề tài và dự án, kể cả một số nhiệm vụ có tài trợ Quốc tế nhằm nghiên cứu, đánh giá nhằm đề xuất các phương án, giải pháp bảo vệ môi trường biển khu vực Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long. Đáng chú ý, dự án Nghiên cứu quản lý môi trường Vịnh Hạ Long của JICA (1997 – 1998) đã đưa ra quy hoạch quản lý môi trường vịnh phù hợp với mục tiêu bảo tồn thiên nhiên và các hoạt động con người trên cơ sở các nghiên cứu đánh giá tài nguyên và môi trường, kinh tế – xã hội theo hướng quy hoạch tổng hợp khu vực giai đoạn đoạn 2000, 2005 và 2010. Tuy nhiên, hoạt động kinh tế khu vực phát triển rất nhanh và sôi động với nhiều lĩnh vực đã vượt xa ngoài mức độ dự báo của các chuyên gia JICA từ năm 1998.
Để có cơ sở khoa học phục vụ cho quy hoạch môi trường và công tác bảo vệ môi trường khu vực vực Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long lâu dài, gắn kết và phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được xác định đến 2020 và tầm nhìn đến 2025, cần thiết phải có nghiên cứu đánh giá hệ thống về khả năng tự làm sạch và sức tải môi trường Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long. Xuất phát từ yêu cầu đó, nhóm tác giả đã tiến hành biên soạn cuốn sách chuyên khảo này.
Cuốn sách được biên soạn chủ yếu dựa vào kết quả nghiên cứu của hai đề tài do tỉnh Quảng Ninh giao nhiệm vụ cho Viện Tài nguyên và Môi trường biển. Đó là đề tài: “Xây dựng mô hình lan truyền ô nhiễm khu vực Vịnh Hạ Long –Bái Tử Long” thực hiện trong các năm 2005 – 2006 và đề tài: ”Nghiên cứu đánh giá sức tải môi trường và đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long" được thực hiện trong các năm 2008 – 2010. Ngoài ra, cuốn sách đã kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình điều tra, nghiên cứu đã có tại khu vực này về điều kiện thuỷ động lực, hiện trạng môi trường nước, trầm tích và lan truyền ô nhiễm, biến động địa hình, khu hệ sinh vật và đa dạng sinh học v.v. Cuốn sách đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến môi trường khu vực Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long, tuy nhiên trọng tâm nhằm vào đánh giá khả năng tự làm sạch và sức tải môi trường của thuỷ vực vịnh. Do điều kiện còn hạn chế, trong phạm vi cuốn sách này sức tải môi trường được đánh giá cho một số thông số liên quan đến ô nhiễm hữu cơ, chất dinh dưỡng như BOD, COD, NH4+ , NO2- , PO43- và một số kim loại nặng như Cd, Cu, Pb, Zn, Hg, As. Ngoài ra, khả năng bồi lắng trầm tích đáy vịnh cũng được coi là vấn đề quan trọng được quan tâm.
Tập thể tác giả chân thành cảm ơn Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã xét duyệt và hỗ trợ kinh phí xuất bản cuốn sách này. Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh, Sở Khoa học và Công nghệ Quảng Ninh, Viện Tài nguyên và Môi trường biển đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu khoa học tại để tạo dựng bộ tư liệu hoàn thành cuốn sách. Tập thể tác giả cũng chân thành cảm ơn các đồng nghiệp: Phạm Hải An, Đỗ Trọng Bình, Nguyễn Thị Phương Hoa, Vũ Thị Lựu, Nguyễn Đăng Ngải, Đỗ Công Thung, Chu Văn Thuộc, Đàm Đức Tiến và một số đồng nghiệp khác đã giúp đỡ, hỗ trợ cho quá trình nghiêncứu để hoàn thành công trình này. Đặc biệt, xin chân thành cảm ơn GS.TSKH. Đặng Ngọc Thanh đã đọc và góp nhiều ý kiến quý báu cho việc biên tập và hoàn thiện cuốn sách.
Chắc chắn, cuốn sách còn có những hạn chế mong được độc giả lượng thứ và còn những vấn đề cần được góp ý và trao đổi. Chấp nhận những khiếm khuyết khó tránh, hy vọng đây sẽ là tập tư liệu hữu ích cho nghiên cứu và giảng dạy, góp phần bảo vệ môi trường Vịnh Hạ Long – Bái Tử Long nói riêng, các thuỷ vực ven bờ Việt Nam nói chung.

3 Bookmarks
 · 
784 Views